HỔ TƯỢNG ÐẤU TRONG VIỆT SỬ

G.S. Vũ Ðức

www.daichung.com


Hổ và Tượng là hai loại động vật có sức mạnh vô địch, làm khiếp đảm những loài vật khác ở chốn rừng hoang. Hổ còn gọi là cọp, ngoài sức mạnh thể chất, hổ còn có đặc tính hung bạo, dã man, hiếu chiến đã được người đời gán cho là "Chúa Tể Sơn Lâm". Trái lại, Tượng hay voi, mặc dù có sức mạnh trong một thân hình to lớn, nặng nề, nhưng voi lại có tính chất hiền lành, hòa hoãn, chậm chạp và dẻo dai.
 

I. Tượng Binh Qua Các Triều Ðại

Thuở xưa, vào thời phong kiến, các bậc vua chúa, tướng quân thường cho lập nên những chuồng nuôi dưỡng voi và cọp, để có dịp thưởng thức những cuộc giao đấu giữa các thú dữ này. Ðây cũng là một phương thức huấn luyện chiến đấu cho voi thêm phần tinh nhuệ, và trau dồi tính can đảm trong lúc ra trận.

Năm 40 sau Thiên Chúa, hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị là người đầu tiên dùng voi ra trận, để đánh đuổi quan quân Thái Thú Tô Ðịnh, và chiếm được 65 thành trì, rồi lên ngôi vua.

Năm 248, bà Triệu-Ẩu noi gương hai bà Trưng cũng dùng voi để chống lại với Thái Thú Lục Dận.

Tháng 9 1288, trong lúc tiến quân để đánh trận Bạch Ðằng Giang, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cỡi voi đến sông Hóa Giang, voi của ngài bị lún sình, ngài đứng trên mình voi chỉ gươm xuống dòng sông Hóa mà thề rằng: " - Chuyến đi này, nếu ta không đánh tan giặc, ta thề sẽ không trở về."

Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vào mùa xuân Kỷ Dậu, năm 1789, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh, phần lớn, nhờ vào đạo Tượng binh, với hàng trăm con voi tác chiến dũng cảm đã làm cho quân Thanh hoảng sợ, bỏ chạy tán loạn. Trong Ðại Việt Sử Ký có ghi:

" - Vào đời vua Trần Thánh Tôn, nhà vua rất thích xem các cuộc hổ tượng giao đấu. Một hôm, nhà vua và hoàng hậu ngự trên vọng lâu, sai quân sĩ thả cọp ra cho giao đấu. Một con cọp quá hung hăng, vừa thoát ra khỏi cửa chuồng, cọp đã nhảy vọt lên vọng lâu, các quan và lính hầu kinh hãi, bỏ chạy tán loạn. Hoàng hậu lanh trí, vói lấy chiếc chiếu hoa cạnh bên, cùng phủ lên mình và nhà vua. Cọp đứng nhìn chung quanh, và gầm gừ hồi lâu, rồi nhảy xuống sân. Hoàng hậu và nhà vua bình an vô sự.

Hôm khác trong lúc nhà vua đang ngồi xem đấu voi, con voi quá hung hăng, định chạy xông đến bên điện, và làm cho mọi người phải kinh sợ bỏ chạy. Chỉ còn nhà vua và hoàng hậu giữ được bình tĩnh ngồi im lặng. Sau cùng, viên quản tượng đã khắc phục được voi."

Vào đời Hậu Lê, ở kinh đô Thăng Long, cũng có tổ chức những cuộc đấu giữa cọp và voi. Vì muốn đề phòng sự nguy hiểm của cọp đối với người dự khán, các quan võ có trách nhiệm đã sai người dùng kềm cắt bỏ hết các móng vuốt của cọp, trước khi cho giao đấu. Cho nên, cọp thường bị voi đánh bại, trong vòng vài ba hiệp sau đó.

Năm 1802, vua Gia Long nhà Nguyễn cho nuôi voi và cọp dùng để phục vụ trong quân đội. Ðến thời vua Minh Mạng, tượng binh được chia ra thành đội, mỗi đội có 40 con voi. Số voi ở kinh thành gồm có 150 con. Ở Bắc thành có 110 con. Ở Gia Ðịnh thành có 75 con. Ở Quảng Nam có 35 con. Ở Bình Ðịnh có 30 con. Nghệ An có 21 con. Tại Quảng Bình, Quảng Ngãi và Thanh Hóa, mỗi nơi có 15 con. Còn ở Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Bình, mỗi nơi có 7 con.
 

II. Hổ Tượng Giao Ðấu Ðời Nguyễn

Vào năm 1830, triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng một đấu trường "Hổ Quyền" rất đồ sộ, dành để huấn luyện voi, trên khu đất rông lớn, ở trên đồi Long Thọ, thuộc làng Nguyễn Biền, bên cạnh bờ sông Hương. Khu vực của đấu trường được giới hạn bởi vòng thah ngoài, hình tròn, bằng tường gạch, được đắp thêm đất dầy và cao. Với chu vi khoảng 140 thước, cao độ 4.5 thước. Mặt trước là cổng chính, liền với hai bên trái phải là hai cổng phụ. Kế hai bên cổng phụ này là các chuồng nuôi dưỡng voi và cọp. Mỗi chuồng đều có cửa ăn thông ra giữa sân đấu. Sân đấu hình tròn, được giới hạn bởi một vòng thành bên trong, bằng tường gạch, tròn có chu vi khoảng 110 thước và 6 thước chiều cao. Giáp với bức tường phía sau, ngay chính giữa là một khán đài cao hơn mặt tường, có căng màn, treo cờ quạt, hoa màu sặc sỡ, dùng để cho nhà vua, hoàng gia, và các quan đại thần an tọa.

Ðến ngày có trận đấu, từ bờ sông Huơng đến cổng đấu trường, dân chúng phải đặt bàn hương án, tế lễ. Dọc theo hai bên đường, hai đội lính ngự lâm của nhà vua, mặc áo nỉ đỏ, đội nón sơn màu, tay cầm khí giới, đứng nghiêm chỉnh làm dàn chào. Lối tiến vào cổng chính của đấu trường, mặt đường được lót bằng chiếu hoa, màu đẹp mắt, cờ màu sặc sỡ, tung bay phất phới, chung quanh đấu trường.

Vào sáng sớm, dân chúng kinh thành và vùng phụ cận đã kéo đến rầm rộ, để lần lượt vào đấu trường, bằng hai cổng phụ, tiến lên các bậc thang bằng gạch, hướng lên mặt tường cao, để ngồi chờ xem.

Ðúng vào giờ Ngọ (12 giờ trưa), nhà vua đến bằng thuyền rồng bên bờ sông Hương, để chuyển lên kiệu hoa, có bốn lộng tàn màu vàng, được dẫn đường bởi toán lính ngự lâm, và thị vệ cắm cờ tam tài, cờ ngũ hành, cờ nhị thập bát tú, với gươm tuốt ra khỏi võ, tiếp đến là đội âm nhạc, nhịp nhàng trỗi dậy theo bước chân đi.

Trước cổng chính, các quan quân tiếp nghinh nhà vua đều phải quỳ phủ phục dưới mặt đường, để đưa vua lên khán đài. Sau khi vua an vị, cửa cổng từ từ đóng lại. Với tiếng trống nổi dậy, đánh thúc liên hồi, để làm hiệu của viên quan chỉ huy. Chuồng hổ được mở ra, một con hổ lông vằn, loang lổ, nhảy vọt ra sân, ngoảnh nhìn bốn phía, với cặp mắt trừng trừng, dữ tợn, cùng với những tiếng gầm gừ thét vang. Bên kia, chuồng voi rộng mở, một con voi to lớn, ngần ngại không chịu bước ra khỏi chuồng. Viên quản tượng phải dùng búa đánh, và giáo đâm vào thân mình voi để thúc đẩy, voi mới chịu ra sân ứng chiến. Trong lúc hổ đang hung hăng sấn tới trước voi, nhún mình nhảy phóng lên, và bám vào cổ voi mà cấu xé. Voi phản ứng với cái vòi, lôi được hổ xuống đất, vừa định đưa chân dẫm lên, nhưng hổ đã lanh lẹ lẩn mình tránh khỏi. Hai bên hăm hở vật lộn với nhau mãi, voi khỏe mạnh, hổ nhanh nhẹn, không bên nào chịu kém thế. Trận đấu kéo dài khoảng 2 tiếng đồng hồ, đợi khi hổ yếu dần, voi thừa sức mạnh tiến sấn đến ép hổ vào chân tường, rồi đưa vòi lên quật mạnh vào hổ. Tiếp theo, voi tung hổ lên trên không, hổ rớt xuống đất chết bẹp. Voi là con vật có công lớn với quốc gia, trong các chiến trận, cho nên, vua quan và dân chúng thấy voi đã hạ được hổ, đều thỏa mãn, tán tụng với những tràng pháo tay, reo hò chiến thắng. Sau khi kết thúc trận đấu, các quan rước nhà vua xuống khán đài, để lên kiệu hoa ra thuyền rồng trở về cung.

Trong quyển Souvenirs de Huế, tác giả Michel Duc Chaigneau có đề cập đến như sau: "-Trước khi cho giao đấu, người ta đã đề phòng cẩn thận, không để cho hổ có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của voi và khán giả, bằng cách khâu miệng hổ lại, giũa mòn các móng vuốt, hoặc bao bọc những chân hổ lại bằng các túi da, hoặc dùng dây xích sắt buộc cổ hổ lại, với một cọc sắt đóng thật sâu xuống đất, khiến hổ không thể nhảy ra xa được. Viên quản tưỡng thúc voi vào để gặp hổ. Hổ nép mình không động đậy, có lẽ, tự cảm thấy mình không đủ sức chống cự lại cặp ngà ghê gớm của địch thủ khổng lồ. Khán giả la hét, vỗ tay, dậm chân để làm cho hổ sợ. Hổ bèn tiến lên với dáng bộ e dè, không được hùng dũng, như lúc tung hoành ở chốn rừng xanh. Nhưng rồi, hổ quyết định, nhảy vọt lên đầu voi để cấu xé. Voi dùng cặp ngà hất mạnh, hổ ngã ra xa. Hổ chồm dậy, bực tức như điên cuồng, thu toàn lực nhảy xông lên bám chặt vào vòi của voi. Voi sợ hoảng rú lên, và tìm đủ mọi cách để hất hổ xuống đất. Mống chân hổ đã bị giũa mòn, hoặc bị bọc trong bao da, cho nên, chẳng bao lâu, hổ đành phải buông vòi voi ra, và ngã lăn xuống đất. Voi liền dùng đôi ngà xúc hổ dậy, rồi tung hổ lên trên không. Cuộc đấu diễn ra cho đến khi hổ bị voi đánh chết."

Nếu là một con hổ khỏe mạnh, vừa mới bắt được, dù cho hổ có bị giũa mòn móng vuốt, nó vẫn còn nguy hiểm. Theo ông Michel Duc Chaigneau, ông đã được chứng kiến một tai nạn xảy ra dưới đời Gia Long: "- Con hổ hôm đó, to lớn lạ thường, hình như nó không tỏ vẻ sợ hãi. Cửa chuồng vừa mở ra, nó lẹ làng nhảy vọt ra, dũng mạnh, gầm gừ, tìm mọi cách để kéo đứt sợi dây xích sắt buộc cổ nó, nhưng không có hiệu quả, nó đành tạm thời nép mình xuống đất. Phía bên kia, viên quản tượng đang thúc voi tiến tới. Khi voi vừa mới tới gần chỗ hổ nằm, rồi nhanh như chớp, hổ nhảy vọt bắn lên đầu voi, và tát mạnh vào thái dương viên quản tượng. Quan quân và dân chúng đều thất kinh hồn vía, la rú lên. Một người lính chạy vào khiêng xác viên quản tượng đi nơi khác, và một con voi thứ hai được chỉ định tiếp tục trận đấu. Lần này, trên lưng voi, có một số binh sĩ cầm giáo dài, để bảo vệ voi và viên quản tượng. Viên quản tượng cẩn thận không cho voi đến sát gần hổ như lần trước. Hổ thấy voi chồm lên, nhưng không tới được. Nó điên cuồng, nhào lộn, lôi kéo, rốt cuộc làm đứt sợi sây xích sắt buộc ở cổ. Binh sĩ hoảng hốt chen nhau bỏ chạy. Hổ thấy mình được tự do bèn bỏ voi, chạy quanh đấu trường để tìm lối thoát, trở về chốn rừng xanh. Nhưng chỗ nào cũng dầy đặc binh lính, đang cầm gươm giáo ngăn chận. Tuy vậy, nó vẫn liều lĩnh tấn công. Sau khi có vài người bị thương, hàng lính phải dang ra. Viên quan chỉ huy thấy vậy, nổi giận hạ lệnh sẽ chém đầu tất cả, nếu không bắt được hổ. Nghe thấy nghiêm lệnh, binh sĩ vội đổ xô lại để bắt hổ, nhưng hổ đã thoát được. Có vài ba người bị hổ cào cắn, con những người khác vẫn tiếp tục rượt bắt hổ. Sau cùng, viên quan chỉ huy đành phải ra lệnh giết hổ. Lập tức, những cây giáo sắt bén rơi như mưa trên mình hổ. Rồi người ta kéo xác hổ vào giữa đấu trường, để cho năm sáu con voi tung lên ném xuống và dẫm nát."
 

III. Võ Sĩ Ðả Hổ Lê Văn Khôi

Tác giả Lê Ðình Chân trong cuốn "Cuộc Ðời Oanh Liệt" của Tả Quân Lê Văn Duyệt có chép chuyện võ sĩ đấu nhau với hổ rất là hào hùng:

"Khi Tả Quân Lê Văn Duyệt giữ chức Tống Trấn Gia Ðịnh Thành, ông có chuyện xây lên những chuồng nuôi hổ và voi. Hổ nhốt vào củi (chuồng), để trong một thửa đất, có dựng nhiều gian, mỗi gian chứa ba bốn mươi củi hổ. Một hôm, Tả Quân cùng với xứ thần Xiêm la (Thái Lan) ngồi trên vọng đài, để xem các võ sĩ thi sức với hổ, dân chúng chen chúc đứng xem chung quanh đài. Tả Quân truyền lệnh thả hổ ra để võ sĩ biểu diễn bắt sống hổ cho xứ thần Xiêm La xem. Một người lính vâng lệnh, rút cái chốt sắt ở cửa củi cho hổ chui ra. Võ sĩ Lê Văn Khôi, mình trần vai u thịt bắp, tóc búi đuôi gà, mặc quần cụt, tay trái cầm một đùi heo, không ngờ con hổ quá dữ, khi thấy Lê Văn Khôi đang tiến tới, lập tức hổ nhảy chồm ngay lên tát vào mặt Khôi. Khôi nhanh nhẹn, né mình tránh sang một bên,rồi thuận đà đánh phản ra một đấm thôi sơn, trúng vào huyệt tử của hổ, hổ ngã lăn xuống đất, dãy dụa một lúc rồi tắt thở.

Sứ thần Xiêm La ngồi trên vọng đài, không tiếc lời khen ngợi, nhưng bỗng thấy Tả Quân nổi giận, rút lệnh tiễn truyền đao phủ bắt trói võ sĩ Khôi đem ra chém đầu, vì đã có lệnh đấu với hổ chỉ được bắt sống, chứ không được đánh chết. Lê Văn Khôi đến trước vọng đài, quỳ lạy, xin Tả Quân tha tội chết, vì không biết và xin đấu lại một lần nữa để bắt sống con hổ mà chuộc tội.

Tả Quân bằng lòng, Khôi lại cầm một đùi heo và bước vào đấu trường. Lính thả hổ ra, bên ngoài, trống thúc vang liên hồi. Bên trong, Khôi với hở thi sức đấu nhau, trước hàng ngàn khán giả. Cuộc tỉ thí lần này thật là hồi hộp. Hổ lớn và rất dữ tợn, nhưng Khôi chẳng phải tay vừa, khán giả đang chăm chú xem. Bỗng nghe hồi trống báo hiệu chấm dứt, và tiếng chuông lanh lảnh vang lên, vì Khôi đã dùng một thế võ bí hiểm đá trúng vào hàm dưới của hổ, khiến hổ phải nằm lăn ra, chổng bốn chân lên trời. Khôi tiến lên trong một tư thế võ bắt cọp, với cuộn dây có sẵn trong mình, rồi trói bốn chân hổ lại, để vác đến đặt trước vọng đài, và làm lễ chuộc tội với Tả Quân.

Sứ thần Xiêm La lại một lần nữa khen ngợi, và tỏ ra rất khâm phục, trước con người hùng dũng Lê Văn Khôi. Tả Quân thấy vậy mới ung dung nói với sứ thần Xiêm La rằng: "Bọn tiểu tốt dưới trướng của tôi đều như vậy cả, có chi đáng cho đại nhân khen ngợi."

Vào cuối đời vua Tự Ðức, việc nuôi dưỡng hổ tượng để giao đấu đã bị bãi bỏ.

G.S. Vũ Ðức