VỐN QUÝ TRANH DÂN GIAN

Bình Nguyên

Que Huong

 

Tranh dân gian xuất hiện cách đây từ nhiều thế kỷ, là kho tàng quý giá của nền văn hoá dân tộc Việt Nam. Nổi tiếng có tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây), Nam Hoàng (Nghệ An), Sình (Huế), tranh Nam Bộ. Mỗi vùng, mỗi dân tộc đều mang đậm sắc thái và kỹ thuật riêng. Các tranh thờ, vẽ hay in gỗ của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan... thường là tranh tôn giáo, gắn liền với đạo Phật hay đạo Lão. Một số bức như "Cầu Hoa" của dân tộc Tày, thờ "Mé Hoa" cầu sinh con cái, "Bàn Cổ" thờ thủy tổ của dân tộc Dao, "Thần Nông" thường là thờ vị thần cày cấy trồng trọt của dân tộc Cao Lan. Phần lớn tranh vẽ bằng bột màu, trên giấy dó, bồi dày. Màu sắc, đường nét chân phương nhưng mang đậm vẻ u huyền, trang trọng của thẩm mỹ miền sơn cước, và thể hiện ước vọng ấm no, yên vui, qua khỏi bệnh tật của người dân tộc vùng cao.

Do nhu cầu tín ngưỡng và nhất là thú chơi tranh ngày Tết, tranh vẽ tay không đủ đáp ứng, các nghệ nhân phải tìm cách in tranh thành nhiều bản. Từ đó tranh dân gian bằng kỹ thuật in bản gỗ ra đời. Vì vậy, tranh dân gian mang yếu tố nghệ thuật đồ hoạ, nổi bật lên hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống. Sự khác biệt về đề tài, chất liệu, đến kỹ thuật khắc ván và in tranh đã tạo nên tính cách riêng biệt giữa hai dòng tranh.

Tranh Đông Hồ, màu in trước, nét in sau. Có bao nhiêu màu thì bấy nhiêu lần in. Những mảng màu to bẹt, đồng bộ. Giấy in tranh là giấy dó, dai, bền, bề mặt quét phủ một lớp điệp cứng, xốp và tạo nên những thớ điệp phát sáng lung linh. Màu mực in được chế từ nguyên liệu thiên nhiên, cỏ cây đất đai sẵn có ở trên rừng, dưới biển. Màu đen xốp êm nhẹ là than tre lá khô. Màu xanh mát chiết từ lá chàm. Màu vàng ấm lấy từ hoa hoè hay quả dành dành. Màu đỏ tươi chắc nịch là bột sỏi son tán nhỏ hay đỏ vàng từ chất gỗ cây vang trên rừng. Màu trắng óng ánh thì dùng vỏ trai điệp ở biển nghiền mịn. Khác với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống thể hiện kỹ thuật nửa in, nửa vẽ. Nghĩa là tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước tô bằng bút lông mềm rộng bản, theo kỹ thuật vờn màu. Đường nét của tranh uyển chuyển, đậm nhạt tinh tế. Do buôn bán cạnh tranh nên tranh thường in kèm tên hiệu như: Thanh An, Vĩnh Lợi, Phúc Bình, Nhân Hưng... có tranh in cả tên tác giả. Tranh in trên giấy dó, bồi dày, khổ rộng, phù hợp nơi nào nhà cao cửa rộng như thành thị.

Trong số bản khắc gỗ còn lưu lại của tranh Hàng Trống, có nhiều bản đặc biệt giá trị được giữ gìn tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam. Những bản gỗ này dày dặn, cỡ 25 cm, 35 cm, 03 cm, khắc cả hai mặt, cách đây ngót 200 năm, theo đề tài rút từ kinh phật, chuyện cổ tích.

Tranh dân gian vẽ theo quan niệm "sống" hơn "giống". Đường nét hết sức gạn lọc, thuần khiết, cốt sao rung cảm thẩm mỹ cho người xem hơn là vẽ đúng luật. Đó cũng là xu hướng vươn tới của hội hoạ hiện đại.

Bức "Hứng dừa" dí dỏm, hài hước, với hai câu thơ:

"Khen ai khéo dựng lên dừa
Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi"

Chị nông dân trẻ, phốp pháp, yếm hở mình, tóc xoã ngang lưng, với bộ mặt  vênh vênh hồn nhiên, hớn hở vén váy hứng đón dừa. Một anh trai tráng vạm vỡ, cởi trần đang trèo lên ngọn dừa có mấy buồng trĩu quả rũ xuống, tay phải bám thân dừa, tay trái cầm trùm dừa 2 qủa với bỏ xuống. Đường nét giản dị mà sinh động, màu son đỏ tươi trên nền vàng giấy dó quét điệp.

Ngược với "Hứng dừa" nhẹ nhàng tình tứ, bức "Đánh ghen" khôi hài, gây hấn, nực cười. Một người đàn ông, đứng giữa hai người đàn bà, tay trái đang đặt lên ngực người đàn bà cởi trần, tay phải giang ra như đang đỡ chiếc kéo của người đàn bà đứng trước mặt (chắc là vợ cả) đang giơ lên để cắt tóc người đàn bà cởi trần (chắc là vợ hai). Bức tranh sinh động, châm biếm cảnh đa thê:

"Thôi thôi bớt giận làm lành
Chi điều sinh sự nhục mình nhục ta"

Tranh "Đám cưới chuột", có người còn gọi là "Nghè chuột vinh quy", đề tài này cả hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống đều có. Bố cục tranh phóng túng, táo bạo, cắt đám cưới ra làm hai giai đoạn mà vẫn đảm bảo tính nghệ thuật cả về hình thức lẫn nội dung. Người xem tranh vẫn thấy đám cưới vẫn tiếp diễn một cách đều đặn chứ không bị gián đoạn trong sự chia cắt. Chủ đề phần trên là "giữ thân", có hai chú chuột thổi kèn và chú chuột đi trước, một chú sách con cá chép to tướng, một chú hai tay bưng con chim câu béo ("Gà trống thiến"- tranh Hàng Trống), trước mặt chúng là một anh mèo đẫy đà đang ngồi chễm chệ chắn đường, tay phải giơ ra nhận của lễ. Chủ đề phần dưới "Nghênh hôn", một chú chuột cưỡi ngựa đi trước đang quay đầu nhìn lại ra hiệu là lễ đã xong, được phép đi qua, một chú chuột đi sau cầm lọng che, chú thứ ba cầm tấm biển gỗ có chữ chúc mừng, và sau cùng là bốn chú chuột khiêng kiệu, trên kiệu là một chú chuột chễm chệ cân đai, áo mũ chỉnh tề. Bức tranh đả kích tệ nạn tham nhũng của giai cấp thống trị. Người dân phải lo lót biếu xén bọn cường hào, quan lại sâu mọt.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: các bức tranh trên xuất hiện rất sớm, có thể là những năm đầu thế kỷ XI (đời Lý) hoặc trước đó.

Bộ tranh Tố Nữ (Tứ Bình), mỗi bức vẽ một cô gái xinh đẹp đang độc diễn sáo, xênh phách, cầm quạt hát, gẩy đàn và 4 bài thơ tứ tuyệt kèm theo. Xin trích bài tứ tuyệt về cô cầm quạt:

"Môi son vừa hé nụ anh đào
Răng ngọc hai hàng nhả điệu cao
Trước gió nghìn cành hoa nhún nhảy
Gót sen lần nhịp đến Dương Châu"

Bộ tranh rất đẹp, đậm nét văn hoá dân tộc. Nhiều nhà thơ từ thế kỷ XVIII đã cảm khái đề thơ, trong đó có nữ sĩ Hồ Xuân Hương:

"Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh".

Bức "Gà đàn" tả một gia đình gà đông vui, gà mẹ kiếm mồi cho đàn gà con, gà trống đứng hùng dũng bảo vệ, các chú gà con tính cách tinh nghịch.

Sang giai đoạn văn hoá thị trường, kỹ thuật in ấn phát triển thì làng tranh chỉ còn mươi gia đình trên 4000 dân theo nghề, và cũng chỉ còn khoảng chục nghệ nhân tường tận nghề tranh. Lẽ nào "mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa trăm ngả. Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã. Bây giờ tan tác về đâu" (Bên kia sông Đuống)?

Thích thú khi ngắm tranh, liệu có ai đồng cảm với Đông Hồ, một vùng quê chất phác, hồn hậu và mộc mạc:

"...Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xóm răng đen
Cười như mùa thu toả nắng...
Những cô nàng cắn chỉ môi trầu
Những cụ già bồng bềnh tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi về đâu, về đâu?".

Bình Nguyên