Dịch NGHĨA Câu đối
ở Đền thờ Hai Bà Trưng

Phạm Hy Sơn

Đền thờ Hai Bà Trưng ở Xã Hát Môn (An Hát xưa) đã có từ lâu đời. Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên đời nhà Lý ghi lại rằng vì trời làm hạn hán nên Vua Lý Anh Tông (1.138 - 1.175) sai Thiền Sư Tịnh Giới tới đền Hai Bà ở An Hát cầu mưa và quả được mưa . Nhà vua bèn sai sắm lễ vật và đích thân tới đền làm lễ tạ ơn. Sau đó vua sai Sứ thần đến rước Hai Bà về thờ tại đền Vũ Sư phía bắc Đại Nội (thành vua ngự tại Thăng Long tức Hà Nội bây giờ), đồng thời ra lệnh cho làng Hạ Lôi Phủ An Lãng , tức Mê Linh, quê hương của Hai Bà lập đền thờ. Trải qua bao năm tháng hưng vong của đất nước, ngôi đền cổ kính ở Hát Môn vẫn được người Việt tới chiêm ngưỡng và hương khói nhớ ơn công đức hai vị nữ anh hùng dân tộc. Chúng tôi sưu tập được một số hình ảnh và hơn 20 đôi câu đối viết bằng chữ Hán xin đem dịch ra tiếng Việt. Một vài đôi câu đối có nghĩa trùng hợp nên chúng tôi không ghi lại ở đây.

Dưới đây là hai bức hoành Phi treo trong đền thờ:



Thống Chính Hùng Lạc

Chữ Nho đọc từ phải sang trái: Lạc Hùng Chính Thống có nghĩa là
Hai Bà đúng là dòng dõi vua Hùng và con cháu dân Hồng Lạc
(Hoành Phi ở Bàn thờ Hai Bà).



Bức Hoành Phi ở bàn thờ các nữ tướng của Hai Bà ghi:
Nữ Trung Hào Kiệt
có nghĩa là các bậc nữ tài ba hơn người đã tận trung với nước.
(Ảnh: Bản quyền của Kimmai PhotoArtshop)


Sau đây là những đôi câu đối:

- Đồng trụ triết hoàn Giao Lĩnh trĩ,
Cấm Khê doanh hạt Hát Giang tràng.

Xin tạm dịch:

- Đồng trụ gãy tan, núi Giao còn cao chót vót,
Cấm Khê khơi mạch, sông Hát mãi chảy ngộn ngàn.

(Khi thua trận, Hai Bà chạy về Cấm Khê rồi về Hát Môn)
 

- Phủ trấn thần uy đồng trụ Bắc,
Phù an quốc thế thạch bàn Nam.

Xin tạm dịch:

- Thần uy phủ mờ cột đồng phía bắc,
Quốc thế phù trì bàn thạch trời Nam.

 

- Tướng môn đĩnh xuất gia thanh ngoại,
Vương hiệu quang thùy quốc sử trung.

Xin tạm dịch:

- Cửa tướng xuất thân danh vang ngoài cõi,
Triều đại huy hoàng quốc sử ngời soi.

 

- Tùng bất kim đao thiên tái tạo,
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.

Xin tạm dịch:

- Không sợ giáo gươm, trời cho dựng nước.
Chẳng ưng đồng trụ, đất vạch biên cương.

 

- Nghĩa khí nhất môn chân tị muội,
Hùng phong thiên cổ xướng anh hào.

Xin tạm dịch:

- Chị em một nhà nghĩa khí,
Anh hùng muôn thuở liệt oanh.

 

- Nhất môn tiết nghĩa sơn hà tại,
Vạn cổ uy thanh thảo mộc tri.

Xin tạm dịch:

- Một nhà tiết nghĩa với sơn hà,
Vạn đại uy danh cây cỏ biết.

 

- Trùng môn đổng đạt nguyệt cung cao,
Cửu bệ tôn nghiêm long điện chiếu.

Xin tạm dịch:

- Hai ngôi báu cao vời bóng nguyệt,
Chín bệ rồng rực rỡ triều môn.

 

- Lập đồng trụ cố nam thiên chi cảnh,
Vọng môn hàn bắc Địch chi tâm!

Xin tạm dịch:

- Cửa bắc lạnh Địch nhòm vượt ải,
Trời Nam lo mê mải cột đồng!
(Địch: 1 bộ tộc hùng mạnh ở phía bắc nước Tàu thời xưa)
 

- Mã chừng nhất nhung chinh, tử liễu tham tàn do hổ phách,
Tượng bành tam tiệp chiến, sinh hoàn quắc thước thượng kinh hồn.

Xin tạm dịch:

- Ngựa chứng một lần lâm chiến tham tàn chết gặp hồn run vía cọp.
Voi bành ba trận thắng oai hùng tái sinh tướng Mã sợ kinh hồn!

(Người xưa chơi chữ: Ngựa (tức Mã Viện) thì luôn luôn sợ cọp.
Voi bành: voi lớn, có lẽ muốn nói đến Đức Trần Hưng Đạo ba lần đại thắng quân nguyên).

 

- Nữ trung xưng kiệt, lục thập thành khôi phục vĩ thần công ,
Nam sử thùy phương, ức vạn lễ hương hương chiêu thánh đức.

Xin tạm dịch:

- Liệt nữ xưng hùng, khôi phục sáu mươi thành sự nghiệp thần công
Sử Nam nức thơm, khói hương muôn vạn lễ kính dâng thánh đức.

 

- Kim qua tứ tải kỳ huân, lương giang nhất tải anh hùng hận,
Đồng quản thiên thu ý thứơc, ngọc phái trường lưu phấn đại hương.

Xin tạm dịch:

- Kiếm cung bốn năm công đức, sông xanh một giải anh hùng hận,
Sử sách (bút nghiên) vạn đại sáng soi, nhánh ngọc còn mãi phấn hương thơm.

 

- Cửu Chân cương lý dư, địa thượng Bắc Nam công bán tại,
Tam chiến can qua hậu, nữ trung hào kiệt cổ lai vô.

Xin tạm dịch:

- Cửu Chân biên cương vạch rõ Bắc Nam hai nước riêng hai,
Sau mấy cuộc chiến chinh nữ anh hùng trước sau có một.



- Nhất nộ cung qua, trí dũng anh hùng tướng,
Ức niên hương hoả, thông minh chính trực thần.

Xin tạm dịch:

- Một giận phát binh, vị tướng anh hùng trí dũng,
Muôn đời hương khói, bậc thần chính trực thông minh.

 

- Đảng địch bát hoang dư võ liệt,
Chiêm đàn vạn tính phổ xuân phong.

Xin tạm dịch:

- Dẹp địch khắp nơi, võ thừa oanh liệt,
Tưới nhuần trăm họ, Xuân đức chứa chan.

 

- Cung kiếm thất tu mi, nữ chủ uy thanh lưu thất quận,
Bình Mông phổ bào dư, thần vương phúc tỉ vĩnh thiên thu.

Xin tạm dịch:

- Cung kiếm vượt nam nhi, Nữ Vương uy danh lưu bảy quận,
Vì đồng bào diệt Mông, Thần linh công đức mãi muôn năm.

 

- Hát giang xiết điện lai, huân liệt chiêu thùy tồn Việt sử,
Hy lĩnh thừa vân hóa, thanh linh hách trạc tại Giao Châu.

Xin tạm dịch:

- Sông Hát trong chớp mắt, đức lớn chan hòa ghi sử Việt ,
Núi Hy rẽ về trời, thần uy hiển hách tại Giao Châu.

 

- Vương nộ viên hách tuân cừu, binh dĩ nghĩa khởi,
Dân hoà nhiên hậu giáng phúc, thần tự cổ linh.

Xin tạm dịch:

- Phẫn nộ viên quan bạo nghịch, Vương dấy binh khởi nghĩa,
Xót thương dân ban phước, Phúc thần tự cổ hiển linh.

 

- Nhất vi cừu Tô, Nam quốc sơn hà nhân tái tạo,
Vô tâm đế Việt, Đông kinh quắc thước dị thành công.

Xin tạm dịch:

- Vì họ Tô hành nghịch, nước Nam sông núi trung hưng lại,
Tại vua Việt vô tình, thành Đông tướng Mã dễ nên công.

 

- Lô giang nhất tẩy anh hùng hận,
Hát thủy trường lưu phấn đại hương.

Xin tạm dịch:

- Lô giang một giải anh hùng hận,
Sông Hát muôn đời nước ngát thơm.

 

- Phục thù nghĩa liệt anh hùng nữ,
Lập quốc cơ đồ chính thống vương.

Xin tạm dịch:

- Nữ anh hùng bởi đại nghĩa phục thù,
Vua chính thống vì cơ đồ lập quốc.

Phạm Hy Sơn