KINH NGHIỆM KHÁNG NGUYÊN

Ðại Dương

VNNB, 19/10/01

 

Thời Trung cổ, quân Nguyên đã đánh bại 3 đế quốc to lớn và mạnh nhất là Thổ, Hung, Hồi; xâm chiếm 40 nước trên thế giới; giẫm nát nhiều quốc gia từ Á sang Âu; chiếm trọn và bình định nước Tàu bao la.

Nhà Nguyên âm mưu thôn tính Nhật Bản và tràn về phương Nam. Chinh phục Nhật Bản khó khăn vì cách trở đại dương nên Nguyên Ðế dồn nỗ lực Nam tiến. Nhưng, con đường Nam tiến phải xuyên qua Ðại Việt. Cố vấn khuyên Nguyên Ðế Hốt Tất Liệt tạm việc hoãn đánh Nam Dương để thanh toán Ðại Việt trước vì đó là cửa ngõ Nam tiến.

Tuy nhiên qua ba lần xâm lược, quân Nguyên đều chuốc lấy thất bại nhục nhả. Ðại Việt là nước đầu tiên trên thế giới đánh bại đội quân tinh nhuệ và tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại. Công trạng đó phải kể đến thiên tài quân sự của Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn.

Viện Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc đã triệu tập một phiên họp gồm 478 nhà khoa học về lịch sử quân sự của các nước, phần đông cũng là các nhà quân sự lỗi lạc của thế kỷ để bầu ra 10 vị tướng soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại, qua các thời đại: thượng, trung cổ, và cận đại hầu đưa vào Bách Khoa Toàn Thư.

Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị tướng soái duy nhất trong thời Trung cổ được chọn với 100% số phiếu vì đã chiến thắng kẻ thù mạnh nhất thế giới là quân Nguyên Mông. Theo sách Vẻ Vang Dân Việt tập III và Encyclopedia Britannia.

Kháng Nguyên lần thứ nhất (1257-58). Năm 1257, quân Nguyên áp dụng chiến thuật cố hữu của Mông Cổ là tốc chiến, tàn phá và cướp bóc. Say men chiến thắng ở Châu Âu, nên quân Nguyên coi thường tiểu nhược quốc phía Nam. Có thể đây là trận đánh dò đường Nam tiến, mục đích cướp phá, tàn sát theo bản năng man rợ của người Mông Cộ Sau khi đốt phá, cướp bóc thành Thăng Long trong 9 ngày, quân Nguyên tính rút về nước vì khí hậu và phong thổ khắc nghiệt ở Ðại Việt. Rục rịch triệt thoái liền bị quân Ðại Việt tấn công và truy kích tiêu diệt gần hết.

Kháng Nguyên lần thứ hai (1283-85). Tuy bị Nhà Trần đánh bại nhưng Nguyên Ðế Hốt Tất Liệt vẫn quyết định tiến hành đồng thời 2 cuộc xâm lược tại Nhật Bản và Ðại Việt. Trong thời gian chuẩn bị lực lượng, Hốt Tất Liệt tới tấp tung những đòn ngoại giao hầu thu phục tiểu quốc phương Nam. Thủ đoạn ngoại giao thất bại vì tính uyển chuyển, sự cương quyết của Nhà Trần. Hiểu rõ thực lực đối phương nên Nguyên Ðế Hốt Tất Liệt chuẩn bị chu đáo cuộc xâm lăng bằng cách viện cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành để nhập Việt. Hoàng tử thứ 9 Thoát Hoan được Hốt Tất Liệt phong làm Trấn Nam Vương, thống lĩnh 50 vạn quân trong lần xâm lăng lần thứ haị Toa Ðô đem một vạn quân theo đường biển đánh Chiêm Thành rồi đánh thốc Ðại Việt từ hướng Nam. Thoát Hoan dẫn 50 đại quân vượt biên giớị Sau 2 năm kịch chiến, quân Nguyên bị thiệt hại nặng nề nên phải bãi binh.

Kháng Nguyên lần thứ ba (1287-88). Khi thấy con ôm đầu máu trở về, Hốt Tất Liệt tính đem chém. Nguyên Ðế ngưng việc đánh Nhật Bản để tập trung lực lượng thanh toán Ðại Việt dọn đường Nam Tiến. Năm 1287, Nguyên Ðế phong cho Thoát Hoan làm Tiết chế thống lĩnh 30 vạn quân Nam chinh lấy cớ đưa An Nam quốc vương Trần Ích Tắc về nước. Ðoàn thuyền vận chuyển lương thực, khí giới của quân Nguyên bị Trần Khánh Dư nhậm chìm ở Vân Ðồn khiến giặc hoang mang. Thoát Hoan thấy nguy bèn ra lệnh rút theo đường sông bị quân Nam lùa vào sông Bạch Ðằng và diệt gọn. Sau thất bại ê chề này, Trấn Nam Vương Thoát Hoan bị vua cha đày ra Dương Châu và suốt đời không được phép gặp mặt Hốt Tất Liệt.

Ba nhân vật có ảnh hưởng quyết định thành công trong 3 lần kháng Nguyên.

  • Vua nhà Trần biết nghe lời quần thần, không chuyên đoán; dám xông pha nơi trận mạc đã nêu tấm gương lãnh đạo đúng đắn nên lôi kéo toàn dân vào cuộc chiến tranh toàn diện.
     
  • Thái sư Trần Thủ Ðộ với nghệ thuật chính trị điêu luyện đã mở mặt trận ngoại giao linh động với quân Nguyên; đồng thời biết cách vận động quần chúng hợp lực cùng Triều đình chống giặc.
     
  • Thiên tài quân sự Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn với chiến thuật toàn dân đánh giặc đã tạo ra thiên la địa võng bủa vây quân Nguyên; sử dụng đủ mọi hạng người theo từng chuyên môn khác nhau đã bồi đắp thêm sức mạnh cho quân đội; xem nợ nước nặng hơn thù nhà nên không bị chia lực khi kháng Nguyên.

Huyền sử "nơi nào có vó ngựa Mông Cổ thì cỏ không thể mọc" đã bị dân Việt đạp độ Từ đấy, quân Nguyên từ bỏ tham vọng bành trướng và tập trung vào việc củng cố vương quyền trong phạm vi nước Tàu.

Nguyên nhân nào đã dẫn tiểu quốc Ðại Việt 3 lần đánh thắng đội quân hung thần tinh nhuệ từng làm rung chuyển quả địa cầu?

  • Một là, đường lối rõ ràng. Chủ trương quyết chiến của Nhà Trần thể hiện ngay cả lúc yếu thế nhất đúng như Hịch tướng sĩ của Hưng Ðạo Vương "chớ thấy thua mà ngã lòng, chớ thấy thắng mà tự kiêu". Khi thua phải bỏ kinh thành Thăng Long, Vua muốn hàng cho muôn dân đỡ khổ nhưng Thái sư Trần Thủ Ðộ tâu "Ðầu thần hãy còn, xin Bệ hạ yên tâm". Khi bị giặc truy đuổi, Vua có ý muốn hàng thì Trần Hưng Ðạo tâu "Xin chém đầu hạ thần rồi hãy hàng". Chiến binh đều khắc chữ "Sát Thát" vào cánh tay để nhắc nhở mục tiêu diệt giặc.

    Năm 1282, vua Trần triệu tập cuộc hội nghị bí mật và cao cấp nhất tại Bình Than, Bắc Ninh để thống nhất ý chí và sách lược chống xâm lăng. Chiến thuật, chiến lược nhằm đối phó với Bắc Phương được bàn cãi và quyết định tại Hội nghị này.

    Tiếp theo triều đình triệu tập bô lão toàn quốc về Diên Hồng để truyền đạt ý chí quyết chiến đến toàn dân.

    Hội nghị Bình Than và Diên Hồng nhằm giương cao ngọn chờ quyết chiến, quyết thắng của dòng giống Tiên Rồng.
     
  • Hai là, tinh thần đoàn kết toàn dân. Binh lính Ðại Việt vào giai đoạn đó chỉ có khoảng 20 vạn theo sách lược "động vi binh, tĩnh vi dân". Thực tế, đó không phải là đội quân tinh nhuệ mà chỉ mang tinh thần vệ quốc. Muốn thắng đối phương cần phải tiến hành kháng chiến toàn dân. Các đội dân binh mang tính tự phát và độc lập tác chiến. Mục tiêu chính của lực lượng này là quấy rối đối phương thường trực khiến chúng lúc nào cũng phập phồng lo sợ

    Trần Liễu cha của Hưng Ðạo Ðại Vương từng bất mãn với triều đình rồi làm loạn nhưng thất bại và được vua Trần khoan hồng, phong ấp. Trần Liễu trối cho con phải rửa thù nhà. Tuy nhiên, Hưng Ðạo Vương đã đặt nợ nước trên thù nhà để cùng Triều đình bảo vệ giang sơn gấm vóc.

    Hưng Ðạo Vương và Trần Nhật Duật là anh em họ nhưng chẳng ưa nhaụ Dù vậy, trước hiểm họa mất nước, Trần Quốc Tuấn đã xóa bỏ hiềm khích để cùng nhau chống giặc.

    Thượng tầng kiến trúc gắn bó keo sơn là một thí dụ cụ thể cho toàn dân đoàn kết một lòng.
     
  • Ba là, bất hợp tác với giặc. Chiếu Vua truyền xuống "Phàm các quận huyện trong nước, khi có giặc đến thì phải liều chết cố đánh; nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, chứ không đón hàng".

    Tướng Trần Bình Trọng bị bắt, giặc dụ hàng bằng chức vương, đã khẳng khái quát vào mặt kẻ thù "Ta thà làm quỉ nước Nam chứ không làm Vương đất Bắc".

    Thực hiện "vườn không nhà trống" là một kiểu bất hợp tác tích cực khiến giặc không thể thỏa mãn bản tính man rợ, cướp bóc của đối phương.

    Mặc cho những lời vuốt ve, đe dọa của Thiên triều, vua Trần nhất quyết không cung cấp binh lính, thực phẩm để quân Nguyên đánh Chiêm Thành.

    Vua Trần cương quyết từ chối cống nho sĩ, nghệ nhân, thợ giỏi theo đòi hỏi của Nguyên triềụ Quyết định đó đã không làm chảy máu chất xám của dân tộc, yếu tố tối cần thiết trong việc công cuộc cứu nước và kiến quốc.
     
  • Bốn là, triệt đường lương thảọ Quân Nguyên không thể sử dụng tài nguyên địa phương để nuôi lính nên tổ chức con đường vận lương chu đáọ Quân dân Ðại Việt đã chận đánh và tiêu hủy lương thực của đối phương. Ðiều này đã đẩy quân giặc đến mất tinh thần.
     
  • Năm là, nêu cao tinh thần xả thân vì nước. Thời chiến, Nhà Trần không bao giờ thăng cấp cho quân nhân. Việc xét thưởng chỉ diễn ra khi ca khúc khải hoàn. Ðây là một yếu tố khác biệt với hầu hết các lực lượng quân sự trên thế giớị Nó nâng cao giá trị của chiến binh do mục tiêu phục vụ quê hương xứ sở không màng lợi danh. Ðồng thời cũng ngăn chặn tệ nạn "mua quan bán tước" thường diễn ra trong các quốc gia lâm chiến.

Ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông của quân, dân nhà Trần nào phải chuyện tình cợ Chắc chắn nó phải xuất phát từ sách lược đúng đắn và phương pháp hữu hiệu.

Người Việt chúng ta học hỏi được gì nơi tiền nhân?
 

Ðường lối rõ ràng

Quân, dân nhà Trần một lòng quyết chiến dù mưu đồ thống trị của Nguyên Mông được tiến hành dưới bất cứ chiêu bài nào: chinh phạt hoặc mượn đường đánh Chiêm Thành hoặc lấy cớ đưa An Nam Quốc Vương Trần Ích Tắc về nước.

Muốn lật đổ sự thống trị của Cộng sản cũng phải kiên trì đường lối quyết chiến trước các chiêu bài độc lập dân tộc hoặc chủ nghĩa xã hội hoặc kinh tế thị trường dưới sự điều hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu chủ yếu của Nguyên Mông và Cộng sản là thống trị đất nước và dân tộc Việt Nam, tức là, tước đoạt quyền quyết định vận mệnh của dân ta.

Từ ngữ "mất nước" mà ông cha ta hình dung, thực sự, chỉ là mất quyền tự chủ, tự quyết trong giai đoạn đầu và bị sáp nhập vào mẫu quốc nếu không gặp sức chống đối quyết liệt của dân chúng.

Ngàn năm đô hộ giặc Tàu, trăm năm nô lệ giặc Tây, bọn xâm lược lo khai thác tài nguyên trong giai đoạn đầu tiếp theo là đồng hóa và sáp nhập.

Cộng sản cũng đang khai thác tài nguyên nhân vật lực của dân ta để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn này rồi nối tiếp phần Ềxóa tan biên cươngỂ để biến thành cộng sản chủ nghĩa.

Triều đình nhà Trần đã vạch rõ ranh giới bạn/thù để toàn dân ứng xử thích đáng. Lằn ranh mập mờ có thể làm cho quân, dân lẫn lộn khi chiến đấu.

Cuộc đấu tranh giữa khoảng 3 triệu đảng viên cộng sản thống trị và 75 triệu dân Việt bị trị nhất định phải vạch lằn ranh rõ ràng không vì sự khác biệt chủng tộc mà vì chủ trương quốc-tế-hóa của cộng sản qua học thuyết Marx-Lenin.

Không lằn ranh tức là mất mục tiêu chiến đấu cho quân, dân nhắm vào. Và thiếu cột mốc để biết thành/bại.

Cộng sản cùng chung dòng máu Việt nên khó phân biệt lằn ranh bạn/thù hơn đối với Tây, Tàụ Do đó chúng ta nên xem xét mục tiêu thống trị của chúng.

Tây, Tàu, Cộng đều tước đoạt quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam; cùng khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhân lực hầu phục vụ quyền lợi của chúng trên hết; cùng cướp đoạt tài sản của dân chúng; cùng giết hại một cách dã man vô số dân lành vì mục tiêu thống trị.

Xóa bỏ lằn ranh Quốc/Cộng tức là đồng hóa cộng sản với đất nước dân tộc.
 

Ðoàn kết toàn dân

Tập đoàn thống trị chỉ bị lật đổ dễ dàng trước sức mạnh của toàn dân. Thiếu sự đoàn kết của toàn dân thì cuộc đấu tranh chỉ diễn ra trong hình thái tranh chấp phe nhóm, cá nhân.

Ðoàn kết không bao giờ đến từ khẩu hiệu mà do hành động cụ thể. Biết thế, nên triều đình nhà Trần tìm cách thể hiện tinh thần đoàn kết từ thượng tầng kiến trúc hầu làm gương tốt cho toàn dân.

Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn quên thù nhà với vua Trần Nhân Tôn để chiến đấu vì nợ nước; xóa hiềm khích với tướng soái Trần Nhật Duật để hợp lực chống giặc.

Trần Khánh Dư lập nhiều công trạng trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất nên lọt vào mắt xanh một nàng công chúa bèn bị vua đày đến phải bán than độ nhật. Nào ai lạ gì thói trai tài gái sắc. Khi quân Nguyên rục rịch xâm lăng lần thứ hai, Vua triệu Trần Khánh Dư về trào, cho dự hội nghị bí mật ở Bình Than và phục hồi chức tước để cầm binh.

Toàn dân nô nức một lòng khi nhìn thấy cấp lãnh đạo xóa bỏ thù riêng, quên hiềm khích, tha thứ tội lỗi trong quá khứ để cùng chung lưng đấu cật mà chống giặc.

Như thế, trong công cuộc đấu tranh lật đổ sự thống trị của cộng sản, điều kiện tiên quyết là các đoàn thể, tổ chức chính trị phải quên thù riêng; gạt bỏ tị hiềm; xóa hết lỗi lầm quá khứ để tập trung hận thù chĩa vào giai cấp thống trị.

Tấm gương đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp và hữu hiệu hơn những lời hô hào suông.

Muốn toàn dân đoàn kết thì các tổ chức chính trị, đoàn thể đấu tranh phải kết hợp để thống nhất sách lược và phương thức đấu tranh hầu tránh cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược khiến dân chúng lầm lẫn và tạo điều kiện tốt cho kẻ thù thực hiện kế hoạch ly gián.
 

Bất-hợp-tác

Tập đoàn thống trị không thể thiếu dân để giết chóc cho thỏa mãn thú tính; để áp bức cho thỏa lòng thù hận; để bóc lột từ thói quen kẻ cướp.

Hành động bất-hợp-tác là phương pháp cô lập kẻ thù hữu hiệu nhất.

Quân Nguyên không sử dụng được lính, chiến phí của Ðại Việt đi đánh Chiêm Thành; không cướp được lương thực để nuôi quân; không thu thập được tin tức tình báo khiến chúng bị cô lập hoàn toàn dẫn đến tâm lý chiến bại.

Tác hại của chiến dịch Cải cách Ruộng đất do đảng Cộng sản tiến hành đã ít nghiêm trọng hơn nếu người Việt Nam biết sử dụng ngón đòn bất-hợp-tác.

Thái độ bất-hợp-tác của người Việt đã làm sụp đổ kế hoạch hợp-tác-hóa của Cộng sản.

Chiến binh cộng sản tham gia cuộc tổng công kích Mậu Thân đã ngỡ ngàng trước thái độ bất-hợp-tác của dân chúng miền Nam vĩ tuyến 17.

Bất-hợp-tác là vũ khí của kẻ yếu nhưng lại hàm chứa sức mạnh ghê gớm trong việc kiềm chế bản năng và tình cảm khi phải đương đầu với quyến rũ của công danh, lợi lộc.

Chẳng nên giúp tiền cho cộng sản xây dựng chủ nghĩa xã hộị Không thể nhắm mắt, giết chết lương tri để làm tay sai hoặc công cụ cho Hà Nội.
 

Ðấu tranh vì lý tưởng

Ðời nhà Trần không có lệ phong tước, thăng cấp trong thời kỳ chiến tranh. Việc luận công, hạch tội chỉ diễn ra sau chiến thắng. Do đó, tình trạng mua quan bán tước không hề xảy ra.

Từ quan tới lính, từ vua chí dân quyết xả thân vì nước hoàn toàn do bổn phận, trách nhiệm của mỗi người trước cơn quốc phá gia vong.

Người Việt ngày nay nên noi gương xưa hầu chặn đứng nạn lạm phát chức tước. Có như thế, đồng bào mới tin vào lời hứa vì dân vì nước.

Chức tước phải tương đương với thực lực. Chức lớn không khiến kẻ thù giật mình, đồng bào thán phục. Ngược lại, thực lực mạnh làm cho chúng phải sợ, đồng bào tin tưởng.

Mọi người dồn nỗ lực lật đổ giai cấp thống trị thay vì chú tâm đến kèn cựa, lo lót, bợ đỡ để được tước lớn, cấp cao.

Nước mất nhà tan thì cấp, chức cũng chẳng mua được an ninh cho bản thân và gia đình. Vậy, cấp cao, tước lớn phỏng có ích gì cho công cuộc đấu tranh chung của dân tộc?
 

Tính chủ động

Ðể duy trì tính chủ động, tổ tiên ta chẳng bao giờ chịu sự lãnh đạo của những kẻ từng hợp tác với địch hoặc mang tư tưởng tôn thờ giặc.

Lịch sử cuộc cách mạng dân chủ cuối thế kỷ 20 cũng để lại những thí dụ cụ thể và nóng bỏng.

Anh chàng thợ điện Lech Walesa nhất quyết xa lánh Công đoàn Thống Nhất Ba Lan do Cộng sản chỉ đạo để thành lập Công đoàn Ðoàn Kết nhằm bảo vệ quyền lợi thiết thực cho công nhân và dân chúng. Mặc cho các đe dọa, ve vãn, ông Walesa vẫn không chịu hợp tác với chính quyền Cộng sản. Tinh thần đó như ngọn đuốc soi đường cho nhân dân Ba Lan trong công cuộc đấu tranh đòi quyền tự quyết dân tộc. Khi Công đoàn Ðoàn Kết chiếm đa số ghế quốc hội trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên được Tổng thống [cộng sản] Jarusindski mời thành lập nội các liên hiệp thì ông Walesa từ chối.

Nhà soạn kịch Vavlav Havel đấu tranh quyết liệt với nhà nước Cộng sản, cũng không chịu hợp tác với Thủ tướng đổi mới Alexander Dubcek vì chủ nghĩa cộng sản vẫn làm nền tảng cho chế đô Tín chỉ đó đã giúp cho ông Havel dễ dàng tập họp quần chúng khi cao trào dân chủ lên cao độ.

Hai nhà đấu tranh thiếu kinh nghiệm lãnh đạo quốc gia, nhưng, cương quyết loại trừ chủ nghĩa Marx-Lenin và guồng máy cộng sản ra khỏi cuộc sống của dân tộc. Nhờ thế, Ba Lan, Tiệp Khắc đã không sa lầy trong hội chứng cộng sản như nhiều quốc gia khác.

Ủy viên Bộ Chính trị Liên Xô Boris Yeltsin chẳng những từ bỏ đảng cộng sản mà còn đặt nó ra ngoài vòng pháp luật. Thông điệp đó đã làm nức lòng dân chúng Liên Xô nên họ hết lòng ủng hộ Yeltsin để khai tử chế độ xã hội chủ nghĩa tại chiếc nôi sinh ra nó.

Tuy nhiên, ông Yeltsin thiếu khả năng lột bỏ guồng máy cộng sản thâm căn cố đế khiến cho nước Nga bị hội chứng cộng sản quật cho đến dở sống dở chết.

Người Việt Nam nên thận trọng khi chọn lực lượng chủ động mới có thể tránh được hội chứng cộng sản.
 

Vai trò của người Việt hải ngoại

Cộng đồng người Việt hải ngoại hình thành do tình cờ của lịch sử nhưng đã, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong công cuộc cứu nước và kiến quốc.

Hà Nội muốn sử dụng người Việt hải ngoại như một công cụ của chế độ mặc dù chưa hề tốn một viên gạch xây dựng.

Ngược lại, ước muốn của đa số người Việt hải ngoại vẫn là xây dựng một nước Việt Nam Tự do Dân chủ Phú cường. Ðiều này chỉ trở thành hiện thực khi đảng Cộng sản bị loại khỏi guồng máy quyền lực.

Hà Nội và người Việt hải ngoại vẫn tiếp tục cuộc chiến dai dẳng. Vì thế, người Việt hải ngoại phải chống lại thủ đoạn công-cụ-hóa của chế độ cộng sản.

Người Việt hải ngoại không thể để cho Tập đoàn Cộng sản bóp nặn hầu bao, bòn rút chất xám nhằm xây dựng một xã hội không tưởng.

Chẳng những chúng ta bất-hợp-tác với Cộng sản mà còn phải cô lập bọn tay sai trên khắp mọi lĩnh vực xã hội hầu sớm đẩy chúng ra khỏi vị trí thống trị.

Mấy năm trước, Hà Nội đã đem một số báo tuyên truyền ra bán ở hải ngoại. Chẳng có ma nào mua. Ðành dẹp.

Tay sai Trần Văn Trường bị đồng bào hải ngoại giũa thê thảm phải cuốn cờ, dẹp trống.

Văn công lưu diễn ở hải ngoại thường gặp đoàn biểu tình đông người hơn khán giả; nhận được những lời chê bai nhiều hơn tán thưởng. Người Việt hải ngoại không thù văn nghệ sĩ nhưng lại ghét cay ghét đắng những con vẹt của chế độ phi nhân.

Có tiền, Hà Nội cứ bỏ ra lập diễn đàn, nhưng, người Việt hải ngoại chớ nên tạo điều kiện cho Cộng sản tuyên truyền.

Các tổ chức chính trị, đoàn thể đấu tranh nên quyết tâm xóa bỏ tị hiềm, nuốt cục tự ái để kết hợp thành lực lượng hùng hậu mới mong tìm được sự ủng hộ của quần chúng.

Ðại Dương