Mộ thuyền ở Hải Phòng

Saigonnet

Sau khi phát hiện được 2 mộ thuyền ở Châu Can, 9 ở Yên Bắc, 1 ở Hải Dương, sáng 25 tháng 3/2001, tại Dực Viễn xã Thủy Sơn huyện Thuỷ Nguyên-Hải Phòng đã phát hiện thêm 3 mộ thuyền. Bảo tàng Hải Phòng và Viện Khảo cổ đã tổ chức khai quật. Như vậy tổng số mộ thuyền được phát hiện từ tháng 11 năm 2000 đến nay là 15 mộ.

Thủy Nguyên - Hải Phòng là khu vực đã phát hiện được nhiều mộ thuyền trong những năm 60. Khu mộ mới phát hiện gồm có 3 quan tài bằng gỗ nằm trong khu đất rộng khoảng 200m2. Mộ số l nằm sâu so với mặt đường khoảng l,8m . Mộ số l có chiều dài là 2,34 m, chiều rộng 0,4m. Các nhà khai quật đã tìm thấy một số di vật như lao đồng, giáo đồng và đặc biệt có 1 khuyên tai cũng được làm bằng đồng. Bước đầu các nhà khảo cổ có nhận định khu mộ này có niên đại khoảng 2.200 năm thuộc niên đại mộ thuyền sớm thuộc nền văn hoá Ðồng Sơn của người Việt Cổ.
 

10 thế kỉ đầu (Thế kỷ 1 - 10)

Cổ vật Việt Nam 10 kỉ nguyên đầu khá đa dạng về chất liệu nhưng cơ bản gồm 3 chủng loại chính: đồ đất nung, đồ đá và đồ gốm. Chất lượng sản phẩm nhìn chung vẫn còn ở mức độ bình thường, chưa cao. Cổ vật thuộc nhóm đồ đất nung được tìm thấy nhiều nhất là chứng tích của các nền văn hoá Ðông Sơn, văn hoá Ðồng Ðậu, văn hoá Sa Huỳnh.ổ vật Việt Nam 10 kỉ nguyên đầu khá đa dạng về chất liệu nhưng cơ bản gồm 3 chủng loại chính: đồ đất nung, đồ đá và đồ gốm. Chất lượng sản phẩm nhìn chung vẫn còn ở mức độ bình thường, chưa cao. Cổ vật thuộc nhóm đồ đất nung được tìm thấy nhiều nhất là chứng tích của các nền văn hoá Ðông Sơn, văn hoá Ðồng Ðậu, văn hoá Sa Huỳnh.

Ðồ đất nung
Bảo tàng lịch sử Hà Nội

Những cổ vật này thường là các vật thể được làm bằng đất sét, có hình dáng khá đẹp, màu xám, sẫm, bề mặt sơn đỏ, có khi được quét một lớp nước áo (đất sét lỏng). Chúng rất cứng nhờ được nung ở nhiệt độ cao. Ngoài ra người ta cũng tìm thấy những mảnh vỡ nhỏ có nhiệt độ nung thấp hơn trong mô hình như: mẫu nhà, mẫu lò, bình, đồ nấu nướng, lọ...

Cổ vật thuộc nhóm đồ đá điển hình cho trình độ phát triển cao của kĩ thuật sử dụng đất sét thông thường. Nhóm này bao gồm các bình, lọ bằng đá với các vật thể bằng đất sét trộn với cát màu sẫm.

Cổ vật thuộc nhóm đồ sứ là sự đa dạng về hình dáng và kiểu mẫu, bao gồm: bình 4 quai, chậu... đặc biệt là những chiếc lọ có hình dạng lan can mạ hai mặt phỏng theo nguyên mẫu bằng đồng. Ðồ trang trí cho các cổ vật này gồm có bản khắc, khuôn mẫu hình thoi, hình xương cá...Nửa trên của các vật thể như bình, lọ được cấu tạo bằng chất liệu gốm với phần dưới cách đế khoảng 1cm được làm chất liệu phi gốm.

Hầu hết các cổ vật thời kì này được tìm thấy trong các hang động cổ xưa ở các tỉnh phía bắc. Vào thời Hán thuộc, đồ sứ chủ yếu có màu xanh sáng, rất mỏng, không bóng và rất dễ bong, tróc men. Ðến thời Sui-Tang, đồ sứ dầy hơn, và thường có màu trắng ngà, hoặc vàng nhạt, nhiệt độ nung cũng cao hơn.


Thời Lý (Thế kỷ 11 - 13)

Uyên ương trang trí kiến trúc Bảo tàng lịch sử Hà Nội

Các cổ vật thời Lý sưu tầm được mặc dù vẫn thể hiện mức độ bình thường về chất lượng nhưng hình dáng, kiểu cách thì rất đa dạng và phong phú. Về cơ bản có thể phân làm hai loại dựa trên chất liệu sản phẩm: đồ đất nung và đồ gốm sứ.

1. Ðồ đất nung:

Một điển hình cho đồ đất nung thời Lý phải kể đến là gạch nung. Gạch được dùng trong xây dựng đền chùa, miếu điện, gạch trang trí... Những viên gạch tìm thấy thường có màu cam, rắn, chắc và khá nhẵn. Chúng có nhiều kiểu dáng khác nhau, có viên hình chữ nhật mô phỏng theo phong cách Trung Hoa, đắp nổi ở mặt trong; một số viên khác có 8 cạnh theo phong cách ấn Ðộ. Mặc dù những viên gạch này chưa được đánh bóng bề mặt nhưng chúng khá là nhẵn và rắn bởi nguồn đất sét để làm gạch đã được chuẩn bị rất công phu.Một tiến bộ của đồ đất nung thời kì này thể hiện trên gạch nung là các dòng chữ đắp nổi trên bề mặt.

Thường những dòng chữ đó ghi niên hiệu năm sản xuất. Nét chữ sắc, nhọn và rất dễ đọc nhờ kĩ thuật in khắc bằng khuôn in. Người ta khắc chúng theo các đường rãnh đã được đục lõm vào trên bề mặt viên gạch khoảng 2 - 4mm, nhờ đó tránh bị xói mòn. Có thể thấy trình độ tay nghề của các nghệ nhân gốm sứ ngay từ thế kỉ 11 đã đạt mức độ tinh xảo, đáng khâm phục. Nhiều kinh nghiệm mà ngày nay chúng ta vẫn còn phải học tập. Ðiều đáng quý ở chỗ các nghệ nhân luôn có ý thức trong việc bảo tồn  "môtip" nghệ thuật mình làm ra và đã lưu giữ được trong khoảng thời gian khá dài. ý thức đó thể hiện ngay trên cả  trên các cổ vật có kĩ thuật thô sơ.
 

2. Ðồ gốm sứ:

Ðồ gốm sứ thời Lý được tráng men màu ngọc bích theo phong cách riêng của thời đại về màu sắc, kiểu dáng, cách trang trí, đặc biệt là vật dụng trong suốt với các màu trắng ngà, men ngọc, hoa văn trang trí hình hoa sen, hoa cúc...

Với con dao tre, người thợ gốm vẽ, khắc rồi chạm các chi tiết tự do, cách điệu hoá kiểu dáng, hoặc trang trí theo khuôn in mẫu trước khi tráng men. Sau đó vật dụng được nung lên ở nhiệt độ cao để cho men lan đều. Sản phẩm được nhuộm ánh lấp lánh, trông thật huyền ảo trong khi đồng thời vẫn giữ được màu sắc, hoạ tiết hoa văn trang trí sống động, chân thực. Hạn chế duy nhất của đồ gốm thời Lý thể hiện ở vết cột chống lò để lại ở mặt trong phần đáy bình. Nhưng chính hạn chế đó lại tạo nét đẹp riêng, trở thành nét khu biệt của đồ gốm thời Lý.

Gốm sứ đương thời đã trở thành sản phẩm nổi tiếng vượt ra ngoài phạm vi trong nước, ghi dấu ấn phát triển rực rỡ của vương triều Lý.

Ðồ gốm thời Lý rất giàu kiểu dáng và thường mang tính thực tiễn cao, phục vụ nhu cầu thiết thực trong sinh hoạt như: ấm pha trà, bát, chậu, đĩa, vò đựng rượu, lọ hoa, liễn. Mỗi loại có một tiêu chuẩn riêng qua mỗi thời kì: vật thể bằng đất sét đẹp; cạnh bằng phẳng, mỏng; hoa văn trang trí chi tiết, sống động. Nhìn chung đã đạt đến độ tinh tế và thanh nhã về hình dáng.


Thời Trần (Thế kỷ 13 - 15)

Bát-Gốm men ngọc Thanh Hóa (thế kỉ 14) Bảo tàng lịch sử HCM

Ðến thời Trần, nghề làm đồ gốm thể hiện một sự thay đổi về hình dạng, kiểu dáng, màu sắc và đồ án trang trí so với trước đó. Nhìn chung, các cổ vật được tìm thấy thời này có vật thể dày, nặng, và khá là cân xứng hơn so với thời Lý. Ðộ cân xứng thể hiện trước hết ở màu sắc. Màu xanh và trắng ngà được phân đều trên các bình gốm men ngọc, tại vùng nổi bật nhất của bình thì dùng màu sôcôla hoặc nâu giống như màu nâu ở phần đế. Ðây là phong cách phổ biến thời Trần. Nghệ thuật trang trí bao gồm dụng cụ trang trí là dao tre, kĩ thuật đúc nặn, đồ trang sức bằng những mẩu đính; sử dụng môtip họa tiết đặc trưng như: hoa sen, hoa cúc, hoa chanh, hình mây cuộn hoặc hình xoắn ốc. Nghệ thuật trang trí có thể được thể hiện tất cả ngay trên quá trình trang trí một chiếc bình, chẳng hạn như cả đồng thời sử dụng cả kĩ thuật chạm khắc và chạm nổi. Nhưng không phải đồ vật nào cũng có trang trí.

Cổ vật thời Lý sưu tầm được bao gồm tất cả các vật dụng thực tiễn thông thường: bát, ấm, đĩa, chén, liễn và chum, đỉnh. Bát và đĩa thuộc nhóm có khối lượng lớn nhất, điển hình với cấu tạo chân nhỏ tinh xảo, đáy tròn, và hình trang trí chạm khắc được cách điệu hoá theo kiểu tự do, phóng khoáng. Một vài kiểu đặc trưng khác là sự trang trí dày đặc, sử dụng kĩ thuật đắp nặn, đặc biệt có nhiều chi tiết hơn so với phong cách đặc trưng thời Lý.


Nậm rượu-Gốm men ngọc thế kỉ 13-14
Bảo tàng lịch sử H
CM

1. Ðồ đất nung:

Số lượng cổ vật thuộc nhóm đồ đất nung thời kì này tìm thấy không nhiều, có thể xếp vào 3 nhóm chính:

  1. Mẫu lăng mộ, tháp.
  2. Gạch lát trang trí.
  3. Ðồ vật trang trí cố định hình tròn, hình lá gãy hay mặt sư tử.

Những vật trang trí cố định này thường có màu cam, sử dụng kĩ thuật chạm khắc đặc trưng chạm nổi hoặc cách trang trí cắt rời. Một số môtip thời Lý được thừa hưởng nhưng ở mức độ tinh xảo hơn chẳng hạn như môtip hình hoa sen, cành hoa cúc...
 

2. Ðồ gốm:

Các cổ vật còn lại cho thấy một đặc trưng đồ gốm thời này là tính thực dụng rất lớn. Sản phẩm được chế tạo sao cho tiện lợi nhất trong sinh hoạt. Nhiều nhất là các loại bát, đĩa, chén, âu, liễn, nậm rượu...


Thời Lê (Thế kỷ 15 - 18)


Các loại ấm - Ðồng
Bảo tàng lịch sử Hà Nội
 

Tượng nghê sơn son thiếp vàng Lê Trung Hưng Bảo tàng lịch sử Hà Nội

Thế kỷ 15 đến thế kỉ 18 là thời kỳ đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Sau khi đánh đuổi được quân Minh xâm lược (Trung Quốc), nhà Lê đã thực sự cai trị đất nước trong vòng 100 năm đầu. Sau đó nó chỉ tồn tại trên danh nghĩa còn lại bị các thế lực khác như Nhà Mạc, Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn chi phối trong việc tranh giành quyền lực và triều chính.

Ðối lập với bối cảnh của lịch sử, sản xuất đồ gốm trong thời kỳ này tiếp tục quá trình phát triển với những giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn đều có những thành tựu đáng kể, mang dấu ấn đặc trưng riêng và  đồ gốm cũng có thể được coi là đặc trưng cổ vật thời Lê.

Giai đoạn này, thuật làm đồ gốm có lợi thế hơn hẳn từ trang thiết bị đến vật liệu mới, với độ bền và chất lượng kỹ thuật cao, sản phẩm đã có sự khác biệt rất nhiều so với những gì có thể đạt được trước đây. Ðồ gốm, sứ được sản xuất từ nhiều trung tâm với tiêu chuẩn chất lượng cao và đa dạng, phong phú về mặt thể loại. Chúng đã được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp giai cấp, đồng thời xuất khẩu sang các nước khác, nhất là dưới triều đại nhà Mạc.

Về hình dáng, đồ gốm Việt Nam trong thế kỷ 15 đến 18 thường khá dày, nặng và hầu hết có men vân rạn, khi gõ vào phát ra tiếng kêu trầm đục do được làm bằng đất sét xốp, nung ở nhiệt độ thấp.

Về màu men, không chỉ có gốm men trắng, men nhiều màu của đầu triều Lê - Mạc mà còn có gốm men ngọc, một số đồ gốm trang trí men nâu và muộn hơn, dưới thời vua Lê - chúa Trịnh, xuất hiện loại mới, được gọi là gốm "nội phủ". Về sau, còn có gốm men xanh dương sẫm và trắng, thể hiện sự thanh nhã, tinh xảo hơn, và trang trí hoàn toàn khác so với đồ gốm đặt ở Trung Quốc được sử dụng trong gia đình vua chúa, và thường bị nhầm với gốm lam Huế.

Trong số ba loại đồ gốm được đề cập ở trên, gốm men ngọc cơ bản có đặc điểm tương tự giống đồ gốm của thời Trần trong khi nội phủ là những loại gốm được nhập khẩu. Bởi vậy có thể nói rằng gốm men xanh dương sẫm, trắng và men nhiều màu là những sản phẩm tiêu biểu của gốm Việt Nam trong giai đoạn từ thế kỷ từ 15 đến 18.

Bên cạnh đồ gốm, các di vật đời Trần còn bao gồm rất nhiều các dụng cụ sinh hoạt bằng đồng chất kượng cao. Ðặc biệt còn có các di vật bằng gỗ được chạm khắc tỉ mỉ, công phu và có dấu hiệu của nghệ thuật thiếp vàng...
 

Thời Nguyễn (Thế kỷ 19 - đầu 20)

Bộ sưu tập cổ vật thời Nguyễn gồm đủ chất loại: gỗ, sắt, đồ đồng, đồng pháp lam..., nhiều nhất vẫn là đồ gốm sứ. Bảng thống kê sưu tập đồ gốm sứ được phân loại dựa trên phong cách riêng, màu men, kiểu, thời gian sản xuất và kỹ thuật sản xuất, cách thức thể hiện, niên đại, biểu tượng của niên đại và sự trang trí của mỗi đồ gốm sứ.

Về cơ bản, chúng có thể được chia làm 2 nhóm: nhóm gốm được sản xuất ở Bát Tràng, Hà Nội vào thế kỷ 19; nhóm gốm lam, trắng Huế (còn được gọi là "lam Huế", được làm ở lò nung ở Quảng Tây của Trung Quốc. Việc phân chia này dựa trên cơ sở phân loại của triều Nguyễn vào khoảng thế kỷ 19 đầu 20.

Ðồ gốm Bát Tràng: Ðược làm vào hoảng thế kỉ 19, đa phần là các vật dụng hữu ích như: bình, ống nước, ấm, nậm rượu, vại...Có rất nhiều loại men khác nhau: xanh và trắng, trắng và xanh vân, xanh dương sẫm, nâu vàng, " da lươn", hoặc 5 màu. Hai phong cách trang trí chủ đạo: Nhóm gốm men trắng và xanh thường trang trí hình mây cuộn, bụi tre hoặc hoa sen và điển hình với loại bình trang trí hình rồng. Nhóm gốm men 5 màu với kĩ thuật chạm khắc, chạm nổi theo chủ đề trong các câu chuyện truyền thuyết Trung Hoa như: Tố Vũ chăn dê, Vận may của người đánh cá, Tám vị tiên vượt biển. Nghệ thuật trang trí sử dụng phương pháp: khắc, chạm, chạm nổi và vẽ.

Gốm lam Huế: Là một loại gốm có men màu trắng và xanh dương, được người Trung Quốc làm theo mẫu do người Việt Nam cung cấp tại những lò nung ở Quảng Tây dưới các triều đại vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, Khải Ðịnh. Vào khoảng nửa sau thế kỷ 18 chúng được sử dụng chủ yếu trong cung đình do các chúa Trịnh đặt hàng từ Trung Quốc. Trang trí chủ yếu là hình Rồng, Kỳ Lân, Phượng Hoàng và các biểu tượng khác của Trung Quốc về quan niệm trường thọ. Từ đầu thế kỷ 19 triều đình nhà Nguyễn tiếp tục cho phép nhập thêm đồ gốm men xanh dương, gốm men trắng và đồ gốm men năm màu của Trung Quốc.

Saigonnet