|
Bàn về chuyện "đánh dấu thanh"
trong tiếng Việt
Ðoàn Xuân Kiên
Bài được đăng từ trang nhà
Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Việt Nam
tại Bỉ quốc.
Hiện nay, trong cách viết "chữ quốc ngữ" tiếng
Việt, có một vài khác biệt trong việc đánh dấu thanh. Những khác biệt này chủ
yếu là ở lối bỏ dấu thanh trên các nguyên âm kép, tức là những tổ hợp có hơn một
nguyên âm. Có khi dấu thanh bỏ trên nguyên âm thứ nhất, có khi lại đánh trên
nguyên âm thứ nhì. Thí dụ: cúng viết một từ có âm / ua /, chúng ta viết quả
nhưng lại viết tòa, hoặc là cùng để viết một từ có âm / ui /, ta viết thủy nhưng
lại viết quí. "Bỏ dấu" như thế là thiếu nhất quán. Như vậy thì bỏ dấu thế nào
mới "đúng", mới "hợp lí" ? Có một số tờ báo tiếng Việt đã công khai đặt vấn đề
này ra, xem như một cách góp phần vào việc định chuẩn cho tiếng Việt. Chẳng hạn
tập san Diễn Ðàn (Paris) cho rằng phải bỏ dấu thanh trên các nguyên âm chính; do
vậy dấu thanh phải bỏ trên Y trong cặp UY (thí dụ: thuỷ, thuý, chuỳ), trên A
trong cặp OA (thí dụ: hoà, toạ, xoã), trên E trong cặp OE (thí dụ: xoè, hoẹ).
Trong một đoạn nhỏ nêu ra chủ trương cuả tờ báo, nhóm chủ trương cho rằng trong
chính tả tiếng Việt hiện nay thì lối viết UA có phần thiếu hợp lí, vì nó ghi hai
tổ hợp âm khác nhau: QUA, CUA. Nhóm chủ trương tập san cho rằng hai tổ hợp
nguyên âm khác nhau về tính cách: / ua/ và /uô/, do vậy đánh dấu thanh có khác
nhau: chữ đầu bỏ dấu trên âm chính là A: quá, trong khi chữ sau đánh dấu trên U
vì nó là âm chính: của, tủa.
Bài viết nhỏ này góp thêm một vài ý kiến liên
quan đến chuyện "đánh dấu thanh" trên cơ sở ngữ âm tiếng Việt.
Thanh là thành phần của âm tiết tiếng Việt
Khi phát âm tiếng Việt, chúng ta phát âm từng
đơn vị lời nói cắt rời nhau, gọi là âm tiết. Khi phát âm chậm một âm tiết, có
thể nhận thấy khá rõ là mỗi âm tiết đều có thể kết hợp nhiều nhất là ba đơn vị
phát âm: âm đầu + âm chính
+ âm cuối.
Ba thành phần trên gồm những âm vị xuất hiện tương đối theo thứ tự trước sau,
nên gọi là những âm vị tuyến tính.
Ngoài ra, mỗi âm tiết được định một bậc
cao thấp, gọi là thanh điệu.
Trong lời nói, mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh. Thanh này xuất hiện
lập tức khi âm tiết được phát ra, cho nên có thể nói rằng thanh là một thành
phần bất khả phân cuả âm tiết. Thanh là thành phần âm vị phi tuyến tính cuả một
âm tiết tiếng Việt. Thanh là một sắc thái cuả âm thanh các âm tiết, qua đó khi
phát âm sẽ định bậc cao thấp khác nhau cuả mỗi đơn vị cuả chuỗi lời nói. Có sáu
thanh làm tiêu chuẩn định bậc cao thấp khác nhau, thường gọi là
ngang, hỏi, sắc, huyền, ngã, nặng.
Như vậy thì mỗi âm tiết tiếng Việt đầy đủ có tối đa bốn đơn vị cấu thành. Tối
thiểu thì mỗi âm tiết cũng phải có hai thành phần: âm chính + thanh. Sơ đồ dưới
đây có thể tóm tắt về kết cấu bốn thành phần cuả một âm tiết tiếng Việt:
| Thanh |
| âm đầu |
âm chính |
âm cuối |
Hình 1: sơ đồ kết cấu âm tiết tiếng Việt
Tính cách ngữ âm cuả thanh trong âm tiết
Trong phạm vi một âm tiết, thanh có hai tính cách như sau:
- Thanh có tính vang phụ thuộc vào tính cách cuả các nguyên âm trong âm tiết.
Cùng ở bậc thanh cao nhất (thanh sắc), nhưng thanh sắc cuả nguyên âm /u/ khác
với thanh sắc trong nguyên âm /ê/.
- Tính cách đặc trưng cuả mỗi thanh đạt mức rõ rệt nhất khi âm tiết đạt đến
đỉnh cao cuả nó. Mỗi âm tiết có một đỉnh cao về mặt âm lượng, ấy là khi âm tiết
thành phần âm chính.
Hình 2: đồ biểu một âm tiết tiếng Việt / mai /
Khi phát âm chậm hai âm tiết / cái bàn / chẳng hạn, có thể nhận ra hai âm đầu
cũng mang tính cách cuả thanh cuả âm tiết đó. Khi kéo dài phần cuối cuả mỗi âm
tiết trên ta cũng nhận thấy rõ là thanh còn "đọng" lại ở các âm cuối cuả âm
tiết. Nhưng cũng hiển nhiên một điều là thanh thể hiện rõ nhất ở hai âm chính
cuả âm tiết qua hai nguyên âm /a/.
Thể hiện thanh qua chữ viết
Nói đến thanh là chủ yếu nói về mặt phát âm.
Khi thể hiện ra chữ viết thì nhiều ngôn ngữ không thể hiện thanh -nói riêng- và
các yếu tố ngôn điệu -nói chung. Ngay tiếng Việt chúng ta cũng có hiện tượng như
thế. Khi xưa ta viết chữ nôm, mỗi chữ là một khối vuông ghi lại một tiếng lẻ
bằng những nét viết cuả chữ Hán. Kết cấu một chữ nôm không cho thấy kí hiệu nào
để chỉ thanh cả. Ðến khi chúng ta chuyển sang dùng "chữ quốc ngữ" thì chúng ta
dùng một hệ thống chữ viết ghi âm, nghiã là mỗi đơn vị phát âm -gọi là âm vị-
được thể hiện ra chữ viết bằng một kí hiệu chữ viết gọi là đồ vị. Trước kia
chúng ta thường quá để ý vào từng chữ cái nên nghĩ rằng chữ quốc ngữ có nhiều
sai chệch giưã phát âm và chữ viết. Chúng tôi đã lập một bảng đồ vị thì thấy
rằng mỗi âm vị tiếng Việt đều có một đồ vị tương ứng. (Phạm et al., 1998). Kí
hiệu ghi thanh điệu cũng thế: mỗi âm tiết khi ghi lại bằng chữ viết đều mang một
dấu thanh, gọi là 'đồ vị thanh'.
Tại sao lại phải dùng dấu thanh trong khi các ngôn ngữ khác trên thế giới không
dùng kí hiệu chữ viết để thể hiện nó?
Ðúng là các ngôn ngữ dùng bảng chữ cái Latin
không dùng thêm kí hiệu chỉ thanh, mà chỉ ghi lại các âm vị tuyến tính bằng các
đồ vị là con chữ. Hệ thống chữ viết khối vuông như chữ Hán và chữ Nôm cũng không
có kí hiệu chỉ thanh. Nhưng trường hợp chữ quốc ngữ có khác. Khi dùng bảng chữ
cái Latin, các đồ vị con chữ chưa đủ để phân biệt ý nghiã một từ được viết ra,
vì có đến sáu thanh phải phân biệt. Ðã đành thanh chỉ là yếu tố ngữ âm không
thuộc về thành phần âm vị tuyến tính, nhưng thanh tiếng Việt không hẳn chỉ là
một yếu tố ngôn điệu mang tính cách hoa mĩ cho âm tiết, mà là một thành phần
không thể thiếu được khi phát âm một âm tiết. Nói cách khác, âm tiết tiếng Việt
chưa hoàn chỉnh khi chưa được định thanh. Có lẽ các nhà sáng chế ra chữ viết
theo bảng chữ cái Latin mà ta thường gọi quen là "chữ quốc ngữ" đã hiểu rất rõ
tính cách bất khả phân của thanh đối với âm tiết tiếng Việt, cho nên các vị đã
dùng đến những kí hiệu để chỉ thị các bậc thanh tương ứng.
Ðã là kí hiệu thì chỉ là vấn đề quy ước . Vậy
thì có thể dùng quy ước gọi tên thanh bằng số thứ tựï: thanh 1, 2, 3, 4, 5, 6.
Có thể thấy ngay là bảng gọi tên thanh tiếng Việt như thế có ý nghiã rằng cách
gọi tên các thanh như ngày xưa chỉ là cách gọi "tượng thanh", nghiã là một thứ
quy ước khác mà thôi. Bản chất thanh thứ năm chẳng hạn, là "thanh cao vút lên, ở
một bực thanh nhạc cao nhất trong số sáu thanh tiếng Việt", cho nên có thể gọi
nó là thanh sắc, hay thanh vút (như Nguyễn Bạt Tuỵ), hay là thanh 5 thì cũng chỉ
là chuyện gọi tên. Vấn đề đặt ra là khi nhìn thấy một chữ mang thanh 5 đó thì
phải nâng âm tiết lên đúng độ cao nhất trong sáu bậc thang thanh điệu tiếng
Việt. Trở lại cách gọi truyền thống, chúng ta có thể nhận ra một điểm lợi lớn là
gợi ngay cho chúng ta bậc cao thấp cuả chính thanh vưà được gọi tên.
Nhưng vấn đề không chỉ là định danh, mà còn là
trình bày thanh thế nào dưới dạng đồ vị. Ở đây, cách dùng con số không tỏ ra
thích hợp nưã. Làm thế cũng chẳng khác gì hành vi cực đoan khác trước kia, khi
một nhà báo Việt Nam - ông Nguyễn Văn Vĩnh- dùng con chữ để chỉ thị thanh điệu
trong khi viết. Ông cho rằng như thế rất tiện dụng cho nhà máy in, vì chẳng cần
đúc thêm những kí hiệu chỉ thanh như chữ quốc ngữ hiện hành. Thể nghiệm cuả ông
nhanh chóng đi vào quên lãng, vì nó không có cơ sở nào cả.
Một vấn đề nưã: thanh điệu tiếng Việt là thành
phần âm vị phi tuyến tính, nghiã là thành phần bao trùm cuả âm tiết, thì thanh
có thể đặt trên bất cứ bộ phận nào cuả chữ viết; hà tất phải câu nệ mà bỏ dấu
thanh vào một vị trí cố định ?
Trước hết, cần xác minh là, về mặt ngữ âm, nói
thanh là âm vị phi tuyến tính chỉ có nghiã là thanh không xuất hiện theo trật tự
trước sau cuả các âm vị tuyến tính: âm đầu ---> âm chính ---> âm cuối. Nhưng
thanh còn một tính cách quan trọng khác là có tính vang. Thanh thể hiện rõ nét
nhất là ở thành phần âm chính cuả âm tiết do nguyên âm đảm nhận. Cho nên thể
hiện cách viết các dấu thanh theo quy ước truyền thống từ thế kỉ XVII đến nay là
một điều xác đáng. Các nhà sáng chế chữ quốc ngữ đã tiến đến ổn định vị trí cuả
dấu thanh tiếng Việt là đặt trên nguyên âm -tức là thành phần âm chính cuả âm
tiết khi phát âm. Chẳng hạn câu sau đây: "Người
lên ngưạ kẻ chia bào" đều có các dấu thanh
đặt ngay trên các nguyên âm. Ðiều này có thể chỉ là cảm nhận tinh tế ban đầu,
nhưng đã tỏ ra rất xác đáng về mặt âm học và ngữ học.
Có điều rằng xưa nay việc ghi dấu thanh cho các từ có hơn một một nguyên âm thì
thường thiếu tính cách nhất quán, dẫn đến những lối ghi khác nhau. Nguyên nhân
không phải là từ bản thân tiếng Việt hay là từ hệ thống chữ quốc ngữ đâu. Mà
chính là vì sự thiếu nhất quán trong việc mô tả hệ thống nguyên âm kép
(dipthong) cuả tiếng Việt. Cho nên tìm hiểu hệ thống nguyên âm kép tiếng Việt sẽ
giúp giải quyết đúng vấn đề "đánh dấu thanh" khi viết.
Nguyên âm kép cuả tiếng Việt
Trước nay các sách mô tả ngữ âm tiếng Việt đều
chấp nhận giải thuyết cho rằng nguyên âm kép cuả tiếng Việt gồm có ba đơn vị như
sau: iê (ia), ươ (ưa), uô.
Các nhà ngữ âm đã biện luận rất nhiều về khả năng kết hợp cuả các nguyên âm kép
/ iê /, / ươ /, / uô / để thưà nhận chúng là những nguyên âm kép một âm vị (Lê
1948, Nguyễn 1949, Thompson 1965, Ðoàn 1977). Tuy nhiên các tác giả trước đây
không thống nhất ý kiến nhau về tính cách cuả các nguyên âm kép tiếng Việt, do
vậy mà ý kiến cuả các vị cũng rất phân tán.
Ðể biện giải rằng ba nguyên âm kép nói trên là
ba nguyên âm kép, các tác giả đều đưa ra mấy lẽ như sau:
- (a) về mặt ngữ âm, cả
ba đơn vị nguyên âm vưà kể đều là một âm vị;
- (b) cả ba nguyên âm này đều có yếu
tố nguyên âm đầu mạnh hơn yếu tố sau;
- (c) ba tổ hợp này đều có thể kết hợp với
phụ âm môi, trong khi các tổ hợp khác không thể.
Chúng tôi đã chứng minh là hai tính cách đầu
có thể tìm thấy ở cả chín tổ hợp nguyên âm kép trượt tăng dần . Chỉ có điểm thứ
ba thì cần bàn thêm cho rõ: về mặt ngữ âm thuần tuý thì những phụ âm đầu có thể
kết hợp được với ba tổ hợp iê (ia), ươ (ưa), uô (ua) cũng có thể kết hợp được cả
với các tổ hợp khác. Tiếng Việt không có * boàng, *phuế, *voe, & chỉ là vì chúng
ta muốn áp dụng luật tiết kiệm ngữ âm mà thôi: phụ âm môi mở đầu trượt tiếp sang
âm chính ở vị trí hẹp, cao như i, ư, u để dừng lại ở một bậc dưới chúng (ê, ơ,
ô) thì không phải gắng sức nhiều bằng khi phát âm các tổ hợp khác có khoảng cách
biệt rộng hơn. Cho nên luận điểm (c) nói ở trên không phải là tính cách quyết
định. Tính cách âm vị học nổi bật nhất của nguyên âm kép tiếng Việt là: dù phát
âm từ những vị trí khác nhau, tất cả đều là những tổ hợp nguyên âm trượt tăng
dần. Những tính cách âm vị học cuả ba nguyên âm kép trên cũng tìm thấy ở sáu
nguyên âm kép-trượt-tròn môi khác để làm thành một tập hợp chín nguyên âm kép
thường viết ra dưới dạng như sau: iê (ia), ươ (ưa), uô (ua), uơ, uê, oe, oa
(ua), uy, uyê (uya).
Khi loại bỏ sáu nguyên âm kép khác trượt từ âm
tròn môi / u / , / ô/ và / o / ra khỏi hệ thống nguyên âm tiếng Việt, các tác
giả đi trước phải dùng đến khái niệm âm đệm và bán âm / u-/ và / i- / để giải
thích kết hợp này. Ảnh hưởng cuả cách nhìn nhận hiện tượng tròn môi như trong
ngữ âm các tiếng Ấn Âu đã khiến việc mô tả nguyên âm kép tiếng Việt trở thành
phức tạp, khi các tác giả đem khái niệm bán âm và âm đệm vào cấu trúc âm tiết
tiếng Việt. Vả lại, thưà nhận là có hai bán âm /-i-/ và /-u-/, cách giải thích
này cũng không cắt nghiã được hiện tượng không cân đối giưã các nguyên âm trượt
từ bán âm / -i-/ và bán âm / -u-/. Thật ra, những phân tích trên đây cho thấy
nguyên âm kép tiếng Việt chỉ là những nguyên âm trượt với nhau: ba nguyên âm ở
bậc cao nhất là / i/ - /ư/ - /u / đều có khuynh hướng trượt sang các nguyên âm
khác mà làm thành nguyên âm kép. Hiện nay, tất cả các tác giả ngữ âm tiếng Việt
đều công nhận là ba tổ hợp /iê/ - /ươ/ - /uô/ là ba nguyên âm kép, và các yếu tố
đầu là những nguyên âm thực thụ chứ không phải là bán âm. Yếu tố / i / và / u /
trong / ie / và / uô / không phải là một bán âm thì không có lí do gì để bảo các
yếu tố đó trong những tổ hợp nguyên âm kép trượt tăng dần khác là sự trượt từ
một bán âm sang một nguyên âm. Do vậy mà điều hợp lí hơn cả là thưà nhận rằng
hai nguyên âm tiếng Việt trượt sang nhau.
Trong hệ thống nguyên âm kép tiếng Việt, có
một nguyên âm trượt qua ba vị trí cấu âm: / uiê/. Mặc dù vậy, ba nguyên âm này
trượt với nhau vẫn chỉ tạo thành một đỉnh âm tiết là nguyên âm / ê /, do vậy
nguyên âm ba này vẫn chỉ có giá trị là một âm vị trong thành phần âm chính cuả
âm tiết.
Những kiểm nghiệm qua cứ liệu thực nghiệm âm
học gần đây nhất đã xác nhận hiện tượng trượt tăng dần cuả các tổ hợp nguyên âm
tiếng Việt. Tìm hiểu hiện tượng trượt cuả các tổ hợp này sẽ thấy rằng chúng đều
là những "nguyên âm kép trượt tăng dần" từ nguyên âm thứ nhất (I, U, Ư) sang
nguyên âm thứ nhì.
Các nguyên âm tiếng Việt có thể kết hợp với
nhau để cho những nguyên âm kép trượt tăng dần. Dạng trượt tăng dần là nét đặc
trưng cuả lối kết hợp nguyên âm kép tiếng Việt. Nguyên âm trượt tăng dần là các
nguyên âm kép lập thành từ một trong hai trường hợp như sau:
- (a) hoặc là một nguyên âm cùng bậc (hẹp, trung
bình, rộng) nhưng đối lập nhau ở điểm phát âm (trước, giưã, sau) trượt về với
nhau theo chiều: sau ---> giữa, sau ---> trước;
- (b) hoặc là hai nguyên âm khác bậc và điểm
phát âm cùng trượt về với nhau theo chiều cao ---> thấp, nghiã là trượt từ vị
trí mở hẹp sang rộng hơn.
Các nguyên âm kép trượt tăng dần cuả tiếng Việt đều có tính cách chung là âm
tiết mang chúng có hai đỉnh cao, trong đó đỉnh thứ nhì [ ở chỗ nguyên âm thứ nhì
] cao hơn và là đỉnh cao cuả âm tiết (Hình 3). Nguyên âm thứ nhì này sẽ là yếu
tố cảm nhiễm thanh mạnh hơn trong bộ phận âm chính cuả âm tiết. Vì thế, đồ vị
thanh được ghi trên các đồ vị ghi âm vị mạnh cuả âm tiết: tuý luý, kià, huề,
quế, hoè, quẽ, khoẻ, ngoẻo, quở, muá, quấn, khoá, thưả...
Ðường biểu diễn về âm lượng cuả âm tiết / mười / có thể hình dung như sau:
Hình 3: âm tiết có hai đỉnh tạo nên do nguyên
âm kép trượt qua nhau
Tóm lại, nguyên âm trượt tăng dần là một đặc
trưng âm vị học cuả nguyên âm kép tiếng Việt. Ðó là hai nguyên âm trượt sang bên
nhau từ một trong hai vị trí khác nhau:
- hoặc là từ vị trí hẹp trượt sang vị trí rộng hơn ở bậc thấp hơn,
- hoặc là trượt từ vị trí hàng sau về hàng trước hoặc giưã.
Nhận ra tính cách âm vị học cuả 9 tổ hơp nguyên âm kép tiếng Việt thì vấn đề
thành phần âm chính cuả âm tiết tiếng Việt được giải quyết thoả đáng, và cấu
trúc âm tiết tiếng Việt do vậy mà trở nên ổn định, với bốn thành phần. Không có
thành phần gọi là âm đệm.
Trên đây là tính cách âm vị học nổi bật cuả các nguyên âm kép trượt tăng dần cuả
tiếng Việt. Tất cả những nguyên âm kép tiếng Việt nói trên đều có những tính
cách chung sau đây:
- đó là những âm vị làm hạt nhân cuả âm tiết như các nguyên âm đơn;
- có độ dài ngang với một nguyên âm đơn ở thể bình thường;
- yếu tố thứ nhì luôn luôn mạnh hơn yếu tố thứ nhất;
- kết hợp được với các loại âm tiết mở (khi không có âm cuối), và âm tiết khép
(nghiã là khi có âm cuối để khép âm tiết).
Nguyên tắc viết dấu thanh tiếng Việt
Trong các tính cách trên đây cuả nguyên âm kép
tiếng Việt có một tính cách liên quan trực tiếp đến cách viết dấu thanh: ta biết
rằng trong nguyên âm kép tiếng Việt, yếu tố nguyên âm thứ nhì luôn luôn mạnh
hơn, làm thành đỉnh cao cuả âm tiết. Ðiều này dẫn đến quy tắc viết dấu thanh
tiếng Việt, trong các tiếng có nguyên âm kép, như sau: dấu thanh luôn luôn đặt
trên các nguyên âm đứng sau. Không có ngoại lệ.
Ứng dụng cụ thể quy tắc trên thì có những trường hợp nguyên âm kép như sau:
- Nguyên âm trượt từ I có iê, ia. Thí dụ: kiến, miễn, tiền, kià, miá, viá &
- Nguyên âm trượt từ Ư có ươ, ưa. Thí dụ: dưới, mười, mưả, vưà &
- Nguyên âm trượt từ U có uy, uyê/uya, uê, oe, ua/oa, uô, uơ.
- Thí dụ: khuỵu, quỳ, quýt, khuyến, nguyệt, khuya, huế, hoè, quả, hoạ, cuốc,
chuộc, quở, thuở &
- Những nguyên âm kép kết hợp ở thể ngắn có một số dạng như sau: uâ, oă/ua.
- Thí dụ: quất, choắt, quắt.
Một trường hợp có thể gây nhầm lẫn
Chính tả tiếng Việt có một số trường hợp cũng
viết với hai đồ vị nguyên âm, nhưng thật ra bản chất cuả chúng khác hẳn những
trường hợp nguyên âm kép-trượt-tăng-dần bàn đến ở phần trên. Ðó là trường hợp
các nguyên âm kết hợp với U, O, I, Y phiá sau chúng. Thí dụ: sáu, đảo, nhái,
thấy.
Những trường hợp này đều có một kết cấu giống
nhau: âm chính + âm cuối. Trong kết cấu âm tiết cuả bốn từ sáu, đảo, nhái, thấy
trên đây thì au, ao, ai, ây không phải là những nguyên âm kép, vì lẽ một nguyên
âm kép luôn luôn chỉ là một đơn vị âm chính cuả âm tiết, do vậy nó còn có thể
kết hợp thêm với một âm cuối.
Ta biết rằng tiếng Việt có 8 âm vị sau đây đảm nhận thành phần âm cuối trong âm
tiết: m, p, n, t, ng (nh), c (ch), o (u), i (y). Bốn tổ hợp au, ao, ai, ây không
thể kết hợp thêm với một âm cuối nào trong số 8 âm cuối kể trên, vì lẽ chúng đã
có âm cuối rồi. Chẳng hạn, không thể có kết hợp *au+n, *ao+n, *ai+n, *ay+n trong
tiếng Việt.
Khi phát âm thì kết cấu này không trượt tăng dần như các nguyên âm kép. Ngược
lại, chúng "trượt" giảm dần theo đúng quy cách khép âm tiết khi có thành phầm âm
cuối. Những âm U, O, I, Y trong trường hợp này chính là những âm cuối để khép âm
tiết lại. So sánh hai từ sau đây: thuỷ và thủi. Từ trên có âm chính là nguyên âm
kép /uy/ trượt tăng dần từ /u/ sang /i/; từ thứ hai có nguyên âm đơn /u/ là âm
chính và âm cuối /i/ khép âm tiết lại.
Trong kết cấu âm tiết kiểu âm chính + âm cuối /u/, /o/, /i/, /y/ này, thành phần
âm chính có thể gồm một nguyên âm đơn hay một nguyên âm kép. Kết hợp sẽ như sau:
- một nguyên âm + /u/, /o/, /i/, /y/: màu, sáo, nhài, lủi, vẩy &
- một nguyên âm kép + /u/, /o/, /i/, /y/: khuỷu, ngoéo, muối, nguẩy
Dù trong trường hợp nào thì dấu thanh cũng không đặt trên bốn âm cuối /u/, /o/,
/i/, /y/, mà chỉ đặt trên nguyên âm đơn hay trên nguyên âm thứ nhì cuả tổ hợp
nguyên âm kép đứng trước các âm cuối đó.
Tóm lại, dấu thanh tiếng Việt có nguyên tắc viết rất nhất quán, và có thể tóm
tắt như sau:
- Dấu thanh đặt trên thành phần âm chính cuả âm tiết khi viết;
- Thành phần âm chính cuả âm tiết có thể là:
- một nguyên âm đơn: dấu thanh đặt trên nguyên âm;
- một nguyên âm kép: dấu thanh đặt trên nguyên âm thứ nhì.
Ðoàn Xuân Kiên
* Bài đăng trong tập san Ðịnh Hương 17 (1998)
Tài liệu:
-
Tập san Diễn Ðàn (Paris): số 55 (1.9.1996).
-
Ðoàn Thiện
Thuật (1977): Ngữ âm Tiếng Việt. Hà Nội:
Nxb. ÐH & THCN.
-
Ðoàn Xuân Kiên
(1999): "Xem lại một vấn đề ngữ âm
tiếng Việt: Nguyên âm". Hợp Lưu số 45 (th. 2&3.1999), tr. 5-31.
-
Gimson, A.C.
(1980): An Introduction to
pronunciation of English. (3e ed.) London: Edward Arnold.
-
Lê Văn Lý
(1948): Le Parler Vietnamien.
Paris: Hương Anh.
-
Nguyễn Bạt Tuỵ
(1949): Chữ Và Vần Việt Khoa Học.
Sài Gòn: Ngôn Ngữ
-
Phạm Thị Tú
Minh, Nguyễn Văn Thế & Ðoàn Xuân Kiên (1998): Học Kĩ Ðọc Ðúng - Sách
Hướng Dẫn I. Tilburg:Zwijsen.
-
Thompson. L.
(1965): A Vietnamese Grammar.
Seattle: Uni.of Washington Press.
| |