THÁI BÌNH MINH TRIẾT I

Kim-Ðịnh

<<

>>



CHƯƠNG VI: U LINH ÐẤT MẸ


19.

Nay ta cần khai quật lên bằng đi ngược thời gian quan sát các cư dân ở Thái Bình Dương, để tìm ra những ấn tích của thời các Mẹ. Ðó là giai đoạn mẫu hệ được biểu lộ trước hết trong tục mẫu cư, tức rể về ở nhà vợ. Vậy là đã khấc với nguyên thủy lúc con chỉ biết có mẹ. Vai trò của cha không ai biết đến. Thời ấy người ta tin là việc có mang là do thần minh hay hiện tượng nào đó: bên Hi lạp thi tin là do thần Zeus, bên Ấn độ thì do thần Brahma ban đêm phải xuống trần gian mò gái mới có con người. Bên Ðông Á thì các bà Mẹ cổ sơ đều thụ thai kiểu lạ như bà Giản Ðịch tổ tộc Thương có mang do nuốt trứng chim én. Bà Khương Nguyên tổ nhà Châu thì do giẫm vào lốt chân người to lớn mà có mang... Do đó không những có mãu cư, mẫu hệ, mà nhiều nơi luôn cả mẫu quyền (gynaecocracy). Ðó là sự việc tất nhiên vì không có ai tranh quyền vào đấy cả. Từ Tiểu Nê tới New Guinea, Ða nê, Ấn nê, Thái, Miến, Quí Châu, Vân Nam toàn mẫu cư với mẫu hệ, nhất là về tâm tình thì việc mẹ chiếm trọn vẹn còn truyền lâu sau này. Người Indian ở California hầu không nhận cha, nhưng với mẹ thì quấn quit suốt đời. Người Ðayak (Borneo) cũng thế, cha có thể không kể đến, nhưng mẹ thì vẫn là cái gì linh thiêng đáng tôn trọng, và không một ai dám hé ra lời nói nào chống đối. Con gái vẫn thân tình với mẹ cha hơn với chồng. (Mothers 43)

20.

Ngày nay người ta thấy xem ra đàn ông thông minh hơn đàn bà. Giả như điều ấy có đúng thì cái đó do văn hóa xã hội gây nên, chứ ban đầu không có thế. Quan sát những con thú bị giết hoặc bị bắt lúc săn thì con đực bị nhiều hơn những con cái, nên kết luận được rằng con đực thì khờ khạo, lơ đãng, vụng daị, con mái mới khôn lanh, ý tứ, nhanh trí hơn. Vì thế tạo lập gia đình, một việc to lớn khố khăn phải là tác phẩm của Mẹ, chứ con đực không đủ khả năng lập gia đình. Nếu có thì cũng chỉ đi đén thứ đoàn lũ (herd) thuận lợi cho việc săn bắt, chứ trong đoàn lũ rất hiếm tình người. Mà chỉ đặm tình người mới làm nên gia đình được. Trong đoàn lũ chỉ có người đầu được đề cao với luật pháp nghiêm minh cho dễ bề thống trị. Thêm vào đó là sự sống lâu ngày trong bầu khí săn đuổi đâm chém nó uốn nắn xã hội cha thành xã hội lý có tính cách du mục và tất nhiên đi đến chuyên chế bạo hành. Còn xã hội mẹ là xã hội tình căn cứ trên gia tộc, thì tình chiếm hầu trọn vẹn, tất cả đều được tẩm nhuận lâu ngày trong bầu khi mẫu tử làm toàn bằng yêu thương lân tuất vô bến bờ. Trong gia đình không có tiếng của tôi của you, cùng lắm là tiếng của chúng ta, vì lúc ấy chưa có tư sẩn. Chế độ tư sẩn mới ra đơi muộn về sau và trở nên điểm làm đảo ngược lịch sử cũng như tư duy của lòai người, biến văn hóa mẹ thành văn minh cha. Từ văn hóa thôn làng đi sang văn minh thành thị.

21.

Từ sự thể trên ta đi ngược lên thời thái cổ để xem hôn phối bắt đầu tự đâu? Các nhà nhân chủng mới khám phá ra là ban đầu mọi sự hòan toàn do mẹ, không ai biết đến cha, y như đàn cá chuối hay đàn gà do mẹ dẫn đàn con đi ăn. Người ta đoán gia đình nguyên thủy hình thành kiểu đó: chỉ có mẹ con. Ðàn ông có xuát hiện thì chỉ là anh em hay chú bác của mẹ. Do đấy mà vai ông cậu rất lớn trong chế độ mẫu hệ.

Còn hôn phối thì đến sau nữa và chia ra nhiều đợt. Ðợt trước tiên là "huyết tộc quần hôn", ai muốn phối hợp vơi ai trong gia đình thì tùy ý, chưa có ngoại hôn. Kế đó đến lấy vợ chồng là lấy cả một đàn bà, một đàn ông, người con gái trở nên vợ của hết thảy mọi đàn ông trong gia đình, cũng thế người con trai trở nên chồng của hết mọi đàn bà trong gia đình (có lẽ tiếng đàn ông, đàn bà dính lại từ đó) Lúc ấy chưa có cưới xin chi cả: hễ ở với nhau thì nên vợ chồng. Ròi tới giai đọan "Bôn phối" trai gái tự do lấy nhau như trong trống quân, hễ ưng ý và ở với nhau thì ra vợ chồng, tương đương với matrimonium gốc mẹ (matri là mẹ). Ðợt ba mới tới hôn phói (Mariage do Mari là chồng) với mai mối cưới hỏi và từ đấy sang giai đọan phụ hệ xảy ra vào lúc loài người nắm vững sự sản xuất thức ăn đều đặn, rồi được tích trữ để dành lâu. Ðây là lúc thuần phục được con vật, mà Ðông Á chỉ bằng Phục Hi và là lúc biết gieo hạt giống chỉ bằng Thần Nông. Từ đấy cha mới có điạ vị trong gia đình và dần dần lấn át mẹ. Phụ hệ mới xảy ra chừng dăm sáu ngàn năm nay. Chứ tự ban sơ trải qua hàng nhiều trăm ngàn năm chỉ có Mẹ con chứ không có cha con, và đó là điều giải nghĩa tại sao nguyên lý mẹ lại nổi bật ở khởi thủy.

22.

Nguyên lý mẹ là nói theo tiếng ngày nay, chứ xưa kia gọi là thời các Thần Nữ. Do đấy ta có được những ấn tích để theo dõi sự tiến triển của hai nguyên lý Mẹ Cha mà Nho gọi là khôn càn.

Nhìn vào xã hội thái cổ ta thấy liền sự trổi vượt của biểu tượng trăng, mà trăng gắn liền với thần Nữ, nên tôn thờ trăng cũng là tôn thờ Mẹ. Ðiều dễ nhận xết là trăng đi trước Nhật và thường mang dấu đực như ông Trăng còn nhật giống cấi (thái dương thần nữ). (Cách gọi ông bà trời không thuần nhất vì tùy vào thời đặt tên là mẫu hệ hay phụ hệ). Dân Eskimo tôn thờ mặt trăng Aningahk được coi là cao cả nhất. Phụ tá coi về thực phẩm có tên là Sed na cũng là trăng. Nhật khóng có phần nào cả. Với dân da đỏ Tlinkit thì nhật là vợ của trăng và bị coi như bà con nghèo (mothers 333)

Thần Thiên vũ xà = Quetzalcoatle được thờ ở Toltec và Astec là thần trăng và cũng như quì long và giao long là tiền thân của tiên rồng (chim = quetzal, rắn= coatle). Riêng ở Incas thì phái trưởng giả ép buộc dân chúng thớ nhật, nhưng dân chúng vẫn thò thần trăng Cons và Pachacama (Mothers 338). Ðó là thoáng nhìn vùng Thái Bình Dương, nhưng có thể nói trên thế giới kể cả vùng Ðia Trung Hải cũng đều thế. Vì các Nữ thần Isis, Ishtar, Demeter, Artenis, Aphrodite... đều mang phẩm tính của mặt trăng và được tôn thờ như Mẹ Vu 177 trụ, hay là mẫu thân phổ biến (great Mothers) và đã xuất hiện lâu trước các thần mặt trời hay Trời. Việc này chỉ đến sau như dấu khởi đầu du mục phụ hệ ( Mothers 377)

23.

Trăng được thờ như nguồn mạch mọi linh lực (mana) mọi quyền lực phấp môn nên trăng được kể như chủ mọi cuộc biến hóa. Trăng thường được xuất hiện với số 3 và được giải nghĩa là ba thời của trăng: trăng khuyết hai bên, còn giữa là trăng tròn (Mothers 287). Nhiều nơi như Phenicia, Carthage hay Crete thí là ba cây cột mà bên ta thay bằng ba đầu rau: hai ông một bà, cùng một kiểu nữ Oa làm chủ ngự giưã Phục Hi và Thần Nông, nên ba đầu rau được kể là là ba thần nữ (hai ông được tham dự chức tước của bà) Trăng cũng năng xuất hiện với thập tự nhai được giải nghĩa như tứ chi kéo dài của tuần trăng Hina, cũng có khi được giai nghĩa như cây hằng sống. Thập tự nhai hay đi đôi với các vị tế tự mặt trăng cũng như là dấu hiệu của các thần nữ Ishtar hay Aphrodite (Mothers 341). Cứ theo luật chung thì tư tế là các bà. Trăng cũng xuất hiện với con số 14 kiểu như thần Osiris bị thần sét sẻ ra 14 mảnh, được giải nghĩa là hai tuần trăng sóc vọng hay hay là một nử a tháng trăng có 4 tuần, 28 ngày (so với 14 tam giác gốc trong Trống đồng và Hình trang 287 Mothers).

24.

Có một điều nhận xét khác là các con vật được dùng để tế đi với thần nam thường to và là những vật dữ săn trên rừng (cách tế cũng tàn nhẫn: đốt, đóng đanh); còn đi với thần nữ là những con vật nhỏ, phần lớn đã được thuần phục như chim, chó, mèo, thỏ... Trong đó có trường hợp mèo vầ thỏ thường giẵm chân lên nhau. Theo bảng thập nhị chi miền Ðông Nam Á thì Tàu nhận thỏ cũng như hầu hết các nước khác trong miền, trừ Việt nam là nhận mèo. Xét theo nhân chủng học thì cả thỏ cả mèo đều đã xuất hiện trong thời thờ trăng. Riêng về mèo bên Phi châu mạn tây được tin là có chín đời sống và có mắt sáng ban đêm cũng xem thấy (Mothers 297).Trong sách lễ ký (iX.29) thấy mèo được tế cùng với hổ, còn thỏ thời không. Mèo được Việt nam chọn có lẽ vì hợp với tên Việt hơn, bởi việt là vượt lên trên mà mèo thì trèo mau lắm. Vượt lên như vậy để dọn đường cho rồng bay lên trời.

Nói đến rồng là noi đến xà long tức là rắn vốn nổi bật trong huyền thọai và có đầy truyện là rắn đã đánh tráo khả năng trường sinh của con người. Có nhiều dịch bản hơi khác nhau, nhưng đại khái thì con người xưa có da như da rắn, tức có da cứng ròi từng kỳ thì lột da cũ để có da mới mềm mại hơn, nhờ vậy mà sống mãi. Nhưng sau bị rắn đánh tráo nên mất da có vảy (còn sót được chút xíu ở đầu ngón tay ngón chân). Rắn là tên chỉ loại bao gồm cả giao long, ly long, cẩu long, và ma ka rồng...

Tóm lại các yếu tố triết Việt được thấy đầy đủ trong thời thờ trăng: từ tiên rồng đến vai Mẹ nổi nang, qua tả nhậm, đến các số 2,3,5,9. Và tất cả còn lưu ảnh hưởng bên Việt Nam nhiều hơn bên Tàu./.

<<

>>