THÁI BÌNH MINH TRIẾT I

Kim-Ðịnh

<<

>>



CHƯƠNG V: VỀ THĂM QUÊ MẸ -
NHỮNG BÓNG DÁNG PHI PHÀM ÐỢT MỘT.


1.

Tìm về nguồn gốc văn hóa Việt mà đi được đến cùng thì sẽ gặp nét đặc trưng nổi bật đó là một thứ huyền thọai rất đặc thù không thể gọi là thần thọai nữa mà bắt buộc phải đặt ra tên mới là nhân thọai. Ở thần thọai thì thần đóng vai chính, thấn làm chủ, làm big boss, con người chỉ đóng vai tùy phụ và thường là nạn nhân. Trái lại trong Nhân Thoại chính con người làm chủ, thường không có thần, hoặc có thì chỉ đóng vai khán gỉa hơn kém. Ðó là phân biệt rất thú vị và có liên hệ mật thiết với Mẹ, mà xưa rầy ít được để ý, là vì nguyên lý Mẹ đã bị chôn vùi, nên người ta cũng không biết đến sự có mặt của nhân thoại nữa. Vậy thì trong việc quang phục nguyên lý Mẹ ta hãy khởi đầu khai thác khía cạnh này. Trước hết hãy kể lại mấy nhân thoại lẫy lừng hơn cả.

2.

Nhân thoại lớn lao cùng cực là Bàn Cổ.

"Hỗn mang chi sơ.
Vị phân thiện địa.
Bàn Cổ thủ xuất.
Thủy phán Âm dương."

Trong cảnh hỗn mang sơ thái, lúc cả đến đất trời cũng chưa phân thì một mình Bàn Cổ xuất hiện. Mỗi ngày lớn lên chín trượng. Ðầu mất hút vào mây trời, chân lún sâu xuống tận rốn đất. Khóc thì thành các sông, cười thì thành sấm sét, thân xác rã tan thánh ra loài người... Thực là nhân thoại cùng cực không thể đặt được một nhân thọai oai hùng hơn. Quả là mênh mông bát ngát đến độ xuất hiện trước cả trời cùng đất, rồi tự tay phân định âm dương, nhân thọai không thể chê vào đâu được. Chỉ có thể hỏi Bàn Cổ thuộc về phía Cha chứ cố phải thuộc phía Mẹ đâu? Thưa gọi ông Bàn Cổ là việc làm về sau, chứ chính ra thì Bàn Cổ chưa phân giống, vì sinh ra tự hỗn mang chi sơ, mới là hình ẩnh của Người Uyên Nguyên, chưa phân đực với cái. Trới đất còn chưa phân làm chi đã có giống đực với giống cái đâu mà bảo là ông với bà. Người ta quen gọi thế vì bi ảnh hưởng xã hội phụ hệ về sau, ngay như Nữ Oa thái Mẫu kia mà trước còn bị gọi là ông, mãi đến đời Hán mới nhận ra là bà.

3.

Nếu cần phải nói ông với bà thì Bàn Cổ phải gọi là bà mới đúng tục lệ thời thái cổ luôn luôn là mẫu tộc; trời cũng còn gọi là bà nữa là: Ông Trăng mà lấy bà Trời. Trăng kém Trời nên chỉ được gọi là ông, phải cao cả như Trời mới được gọi là bà. Vì thế ở thời sơ nguyên bà luôn đi trước như thư hùng, thất gia, tị tổ... Sự thực đó là thứ tự của Việt tộc thuộc chi họ Hồng Bàng. Hồng là chim tiên đi trước Bàng là rồng, đúng thứ tự âm trước dương, vợ trước chồng.

Chữ Bàng cũng đọc là Bàn, nên Hồng Bàng cùng họ với Bàn Cổ. Lưu truyền rằng mồ mả Người còn đâu đó trên rừng núi tỉnh Quảng Ðông. Xin nhớ là Quảng Ðông, Quảng tây và Vân nam đều nằm trong cảnh vực của Bách Việt xưa thuộc Văn lang quốc liền trước đời Nam Việt (207-111 BC). Ðây là vùng mà ngày nay khẩo cổ đang khám phá thấy là một trung tâm rất lơn của văn minh Ðông Á, và chắc sẽ là đỉnh cao tự thức đầu tiên của loài người như sẽ nói sau.

4.

Truyện thứ hai là Phục Hi.

Phục Hi lập ra Kinh Dịch bằng xếp hai nét đứt liền lên nhau. Nét đứt là âm, nét liền là dương, rồi thêm một hào âm hay dương nữa thành ra quẻ đơn ba vạch. Tất cả có tám quẻ. Lại chồng hai quể đơn lên nhau thì thành ra 64 quẻ kép. Ðó là cơ cấu vũ trụ sinh thành: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng biến hóa vô cùng". Ðó là sáng thế ký vắn tắt nhất, hợp đường lối khoa hoc hơn cả và nhất là đầy tình người. Chính nó đại biểu cho nền văn hóa có đường dọc đi lên siêu thức. Cho nên chữ Dịch chính tông phải hiểu là biến thể, là đi lên tầng tâm thức mở rộng khác trước, do đó có tên là Phục Hi, nói bóng là Phục Hi thuần phục súc vật, hiểu là vượt đợt vật hình để siêu lên đợt siêu hình Ðại Ngã. Vì thế chữ Dịch cũng như chữ việt có một ý nghĩa sâu thẳm tâm linh làm nên nét lưỡng hợp đặc biệt. Nét này đã có lâu rồi ở Thái Bình Dương như được chứng tỏ về li nh lực trong các lễ điểm đạo. Còn quẻ của Phục Hi biểu thị giai đoạn đưa các nét lưỡng hợp lên đợt trừu tượng hơn để dễ trở thành phạm trù phổ biến bao gồm cấ trời, đất, người. Kết quả là nét lưỡng hợp trở thành hai hào âm dương. Như vậy nội dung Kinh Dịch đã có trước ngay từ đời Bàn Cổ. Phuc Hi chỉ là đợt công thức hóa đầu tiên. Bàn Cổ đưa ra tượng hình, Phục Hi cách điệu hóa tượng hình thành hai nét vạch liền đứt.

5.

Truyện Nữ Oa

Hai nét này sẽ trở nên như cánh cửa mở vào miền đạo học Việt Nho mà đỉnh cao hơn hết là hai lễ Phong Thiện. Phong là lễ tế Trời cử hành trên núi Thái sơn. Thiện là lễ tế Ðất ở Lưỡng Phủ.
Trong đời sống thì hai nét đó trở nên nhịp đôi ăn vào hết mọi sự mọi việc và diễn ra đủ hình thái như tròn vuông, chẵn lẻ, cương nhu, vô hữu... làm nên một thứ tiết nhịp mênh mông chỉ huy toàn thể vũ trụ.

Bạn bảo đúng là nhân thoại nhưng không có Mẹ? Thưa không những có mà Mẹ còn giữ ngôi Nội Tướng trong vai Nữ Oa thái Mẫu theo luật "quả vi quân, chúng vi dân". Quả là chỉ có một mình như Nội Nữ Oa nên làm vua ngự ở trung cung số 5. Còn chúng là Phục Hi và Thần Nông làm dân chia nhau đóng đồn lính thú hai bên: Phục Hi bên đông số 3, hành mộc, mầu xanh nên cũng có tên là Thanh Tinh (rồng xanh). Thần Nông số 2, phương Nam chỉ hỏa đức, màu đỏ nên có tên là Viêm đế. Cả hai bao quanh Nữ Oa làm thành "Tam Vị Thái Sơ" cân đối cùng cực, kết tinh bằng ba số 2, 3, 5. Như vậy Nữ Oa thái Mẫu chính là bà nội của chúng ta. Nói vắn tắt là Nội. Nội trên các Nội.

6.

Về Nội Nữ Oa còn nhiều điều phải nói. - Trước hết là Nội đội đá vá trời. - Hai là Nội cằm cái Qui (số 5). - Thứ nữa là Nội lập ra phép linh phối. Truyện vá trời phải kể sau truyện Cộng Công húc đầu vầo núi Bất Chu Chi Sơn đánh sụt trời phía tây bắc, buộc Nội phải nấu đá Ngủ Hành đội lên vá lại. Ðây chỉ nhắc sơ qua, sau sẽ trở lại phân tích tỉ mỉ.

Ðiểm hai dễ hơn vì có hình vẽ Nội đang quấn đuôi với ngọai Phục Hi. Ban đầu người ta lầm Nội là ông, vì Nội cằm cái qui tròn. Tròn thuộc trời lẽ ra thuộc cha là Phục Hi. Ðã vậy đến lúc xét phía dưới thấy Nội cũng có đuôi y như Ngoại Phục Hi. Thành ra ban đầu loáng quáng gọi Nội là ông. Ðó là tại chưa học luật Giao Chỉ của Kinh Dịch, theo đó thì "thể phương nhi dụng viên" (cái thể trong vuông thì cái dụng bên ngoài phải tròn). Vuông là mẹ nhưng vì ở trong, nên biểu lộ phải tròn. Tròn thì cằm cái qui và là tay trên; Phục Hi chỉ còn có cái Củ kém cái Qui một bậc, nên tục ngữ nói "lệnh ông không bằng cồng bá". Ðó là tình trạng buổi sơ nguyên thì vậy.

7.

Truyện thứ bốn về cái qui

Truyện thứ bốn về cái qui là khó nhất: cho tới nay chưa sách nào giaỉ nghĩa nổi (như ông Gulich phàn trong quyển La vie sexuelle en Chine p.81). Không lạ vì trong có những khó khăn vượt tầm hiểu biết của duy lý. Trước hết là vụ tréo cẳng ngỗng (giao chỉ) đã nói trên.

Thứ đến là vì trong cái Qui có phần trống rỗng ở trung tâm là chỗ huyền đồng của mọi đối nghịch, nên nói Nôi lập ra phép linh phối. Nhiều sách viết là hôn phối. Sai rõ rệt vì hôn phối là việc thuộc bình diện hiện tượng ở giai đọan văn minh. Còn linh phối thuộc siêu hình đặt ở đợt văn hóa thái sơ. Vậy phải viết là linh phối để chỉ sự nối kết các thái cực trong vũ trụ. Và đó là Minh Triết hay là khôn sáng. Khôn là tên nguyên lý Mẹ trong Kinh Dịch má Châu Dịch gọi là Càn Khôn. Còn trước kia gọi là Khôn Càn như trong đạo nho: "Dĩ nhu thắng cương."

Ba vĩ tích trên chứng tỏ truyện Nữ Oa là nhân thọai cực kỳ cao siêu, cùng một hơi hưởng như truyện Bàn Cổ, đồng thời đề cao nguyên lý Mẹ trên nguyên lý cha. Cha mà được đề cao thì sẽ đốc ra vai Cộng Công đánh sụp trời. Ðến lúc cần vá thì lại phải cậy đến Nội, chứ chỉ có cái Củ thì làm ăn được chi đâu, chỉ loay hoay đo với đạc ở hàng ngang hiện tượng, chứ đói với linh phối mới quan trọng thì cái củ vuông lý trí tỏ ra bát lực kinh niên. Chì xem bê n trời tây thì rõ: nơi đây cũng xảy ra vụ tương đương với việc làm sụt trời mà Nietzsche gọi là nhát chém chẻ đôi trong siêu hình nhưng thiếu Nữ Oa đội đá vá lại nèn nhát chém vẫn nhỏ máu suỏt qua 25 thế kỷ cho đến tận nay thi máu không nhỏ nữa mà chảy ồ ạt. (Plato đốt thơ đểo thầy Socrates cũng kể là húc đầu vào núi không tròn)

8.

Truyện thứ năm là Thần Nông

Truyện thứ năm là Thần Nông mình ngừơi, đầu bò có tên khác là Viêm đế. Như vậy là ở vào thời thờ mặt trời. Dân thì gọi là Viêm tộc, nhà Phật dịch là "Nhật chủng" (có thể tên Nhật bản phát xuất tự thời này, vì Nhật thờ nữ thần Nhật). Thần Nông có tiếng lập ra phép canh nông. Hai chữ này chỉ bước cách mạng vượt bực của lòai người là đi vào giai đọan tự làm ra của ăn để thay cho giai đọan bấp bênh hái lượm săn bắt. Bước sang giai đoạn mới này thì điện tích trước kia chỉ nuôi được một người thì nay nuôi được đến cả dăm chục người, như thế người có giờ rảnh rỗi hơn nên đã làm nảy sinh ra nhiều nghệ thuật cùng nhiều sáng chế khác như làm nhà, dệt vải, sống qui tụ thành thôn làng... Nhưng quan trọng hơn hết thuộc tinh thần là nét gấp đôi, đặc tính dài lâu của văn hóa, được thành hình một cách bền bỉ và được biểu lộ bằng những hĩnh thái, những lược đồ, những đức tính mà ngày nay nhiều người gọi là văn hóa, để đối chọi với văn minh là sự tiếp nối thời săn bắt, đưa cả chinh phục vào văn hóa thành ra văn minh, lấy thị thành làm chủ, lấy chủ nghĩa pháp luật làm mẫu mực. Bỏ nhạc để thay thế bằng luận lý pháp. Tôn tù trưởng lên làm vua thần, làm lãnh tụ, đặt nền nước trên nguyên lý thống trị (principle of domination) ngược với nguyên lý thân tộc (principle of kinship) bên văn hóa nông nghiệp. Tóm lại văn minh căn cứ trên thành thị, trên những cái nhân vi tạo tác, còn văn hóa căn cứ trên đồng ruộng, trên làng mạc thiên nhiên.

9.

Trên thế giới có ba nền nông nghiệp: lúa mì ở Lưỡng Hà, lúa bắp (ngô) ở Mỹ, Astec, Maya, lúa nước ở Ðông Á. Nông nghiệp lúa Mì sớm bị du mục chinh phục qua Babylon, Assyria. Lúa Bắp bị Astec chế ngự cũng biến ra du mục. Còn lại có lúa Mễ tuy cũng có pha ít lúa mì như mạch và tắc, nhưng lúa Tắc không lấn át nổi lúa Mễ. Tuy nhà Châu có lập ông Hậu Tắc lên làm điền chủ thay Thần Nông, nhưng cuối cùng thất bại. Nhà Thanh đời Khang Hi còn cho tế Thần Nông mà không tế Hậu Tắc, tức văn hóa Mẹ vẫn thắng thế. Ðiều đó chứng tỏ rằng văn hóa nhà Châu đã ghé du mục và đến sau rồi chỉ thêm vào Việt Nho được chút ít để làm ra văn minh Hán chứ không biến đổi được văn hóa Việt đã có lâu trước. Tóm lại Nông nghiệp đã có mặt khắp nơi trên thế giới: đâu cũng có điền tổ hết, nhưng còn đứng vững đến ngày nay với bề thế đồ sộ thì chỉ thấy có nông nghiệp Thần Nông là còn giữ được tinh thần hơn cả, xứng đáng đứng bên hữu Nữ Oa đối với Phục Hi để làm nên Tam Hoàng thái thượng vượt xa mọi bộ ba khấc về đàng nhân chủ tính.

 

NHỮNG BÓNG DÁNG PHI PHÀM ÐỢT HAI.

10.

Sau Tam Hoàng thì đến Ngũ Ðế thường được kể là: Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Ðế Cốc, Nghiêu, Thuấn. Ðây là đơt hai tiếp theo đợt Thái Nhất, nhưng cũng còn thuộc Huyền sử, nên niên kỷ chỉ có thể ước đoán phỏng chừng vào quãng từ 4 đến 5 ngàn năm tr.tl.

Trong ngũ đế nên chú ý đến đề Chuyên Húc họ Cơ (Cơ Chuyên Húc) được phong đất Kinh Man, tức nước Sở sau này, nhưng trước nữa còn gọi là Kinh với Dương (ở phía Ðông) đều thuộc quyền vua Lạc Việt với tên là KInh Dương vương mà sử Tau gọi là Man Di. Ðây còn là lúc thờ mặt trời nên có nhửng lễ về lửa như Nhập hỏa, Cải hỏa, Xuất hỏa... Việc thờ lửa vào thời này ở nhiều nơi kéo theo những vụ thiêu sống người để tế thần như bên Astec, Veda, Phenicia đều có giết trẻ để tế mặt nhật. Riêng bên Ðông Á nhớ có Nguyên lý Mẹ nên tránh được những dị đoan ghê sợ. Truyện kể rằng trời lúc đó thấp lắm: bò đi vướng sừng, lợn phải oằn lưng xuống mới xê dịch được, con người bị quấy rầy nhiều cách. Chuyên Húc mới sai thần Chúc Dung trước rồi Trùng Lê sau phân định ra việc người với việc trời. Truyện kể là ông chặt cây thông lên trời không cho trời xuống quấy rầy con người nữa. Nên hiểu là  có những truyện sát tế như xảy ra ở Phenicia, hay ở Ấn độ củng có tế người như bên Phenicia. Ở Astec cũng vậy người ta thắp lửa trên ngực nạn nhận.

11.

Còn ở Ðông Á ngay thời ấy đã có nhửng huyền thọai xứng đáng là nhân thọai tức không để cho trời can thiệp quá đáng vào việc người như truyện hậu Nghệ bắn rớt 9 mặt trời không cho phiền não con người. Chỉ có vài trường hợp ngọai lệ như vụ Hà Bá cưới vợ thì sớm bị nho gia phá vỡ. Ðó là tinh thần nhân chủ khiến sau này tránh được tai họa chiến tranh tôn giao. Các nơi hầu hết nghệ sĩ bị tư tế khống chế, bắt phải theo luật này nọ như luật trán đầy (frontality) bên Ai cập: vẽ mặt nghiêng nhưng mắt phải thấy đủ. Bên Việt vẽ sao tùy nghệ sĩ, nên hình vẽ có đủ tư thế không ai băt phải theo luật nào hết.

Tóm lậi với Ngủ Ðế thì dù hiểu đế là chinh phục cũng được vì đây không chinh phục đất đai mà là chinh phục tâm lý nghĩa là tẩy khỏi tâm hồn những ý nghĩ dị đoan đã bị trời cho xâm chiếm tâm thần con ngừơi nay cần chinh phục lại cho con người. Khỏi nói thì ai củng biết có nhiều bảng ngũ đế cũng như bẩng Tam Hoàng khấc nhau. Ðo là những bảng sử ký hoá huyền thọai cần phải thải bỏ, vì do đấy những chân lý bao la hàm ngụ trong huyền thoại bị rút hẹp, trở thành sai lầm.

12.

Truyện Hồng Bàng

Truyện này thuộc giai đoạn Ngũ Ðế và còn giữ nhiều ần tích thuộc thời Viêm Việt, thời thờ mặt trời. Chữ Viêm kép bởi hai bộ hỏa chỉ mặt trời. Sau đó bước sang giai đoạn thờ Trời với Hồng Bàng thị. Trang huyền sử đầu tiên của họ náy kể như sau: Cháu ba đời Viêm đế Thần Nông tên là Ðế MInh tuần thú phương Nam gặp Vụ tiên trên núi Ngũ Lĩnh sinh ra Lộc Tục làm vua hai châu KInh vầ châu Dương (kinh Dương vương), đặt quốc hiệu là Giao Chỉ... Ðó chỉ là huyền sử tức hàm chứa ý nghĩa hơn là sự kiện lịch sử. Cái ý nghĩa đó có thể đọc ra phần nào xuyên qua các tên các số.

Trước hết là số 3 trong câu cháu ba đời Viêm đế Thần Nông tên là Ðế Minh tuần thú phương nam. Phương Nam hành hoả nên Ðế Minh (vua sáng) tất phải tìm về đó, về phía có sáng, có lửa. Sau này Nho công thức hóa thành câu "tại minh minh đức": muốn học làm người thì bước thừ nhất phải là "làm sáng cái đức sáng" của mình. Nói bóng là Ðế Minh tuần thú phương Nam. Phương Nam hành hỏa (minh đức) mang số 2. 2 cộng với 3 (cháu ba đời) vị chi là 5, nên tất gặp Vụ tiên trên núi Ngũ lĩnh (= năm đỉnh núi cao). Ðã là tiên thì phải đạt số 5 (Nữ Oa ở trung cung mang số 5) nên tiên phải ở trên Ngũ lĩnh.

13.

Ở đây nên chú trọng đến chữ Vụ tiên. Vụ là cò trắng (trắng đây phải hiểu là trống trơn) cũng gọi là lộ (Lộ Bàn, Lộ Bộc). Cò là giống chim nước nên là dấu chỉ đang đi vầo giai đọan thờ Trời. Trời chỉ bằng chim dương, nhưng bây giờ đã thờ Trời, mà Trời thì phải đối đãi với đất, với nươc, nên phải là chim nước để giao tiếp với rồng ở dưới nước. Trong giai đoạ thờ Nhật duy dương thì các chim thuần dương, mà chim trĩ là chính. Trĩ cũng có tên là Loan, là Ðich, là Nam chủ. Vì các dương điểu này mà nước có tên là Xích Quỉ. Quỉ là làm chủ, còn Xich có nghĩa là tinh hoa của một cái gì, ở đây là tinh hoa của giai đọan thờ mặt nhật, sắc đỏ, nên Xích quỉ có nghĩa là làm chủ, là thấu triệt được ý nghĩa sắc đỏ được thể hiện trong chim chu tước tức con trĩ đỏ lửa. Ðó là tên chấm dứt giai đọan Viêm Việt để bước sang giai đoạn mới thờ Trời thì dương điểu phẩi được thế châ n bằng các chim nước như hồng, hạc, vụ. Vụ tiên lấy Ðế Minh sinh con là Lôc Tục hiệu là KInh Dương vương tức làm vua cai trị hai miền Kinnh Man và Dương châu (vùng sông Hoài, châu Từ, Chiết giang...) cả một miền mênh mông quen gọi là Việt Ðông, mà Việt Chiết giang là một trong những trung tâm một thời nổi tiếng.

14.

Kế đến là truyện mẹ Âu Cơ kết bạn với Lạc Long Quân đẻ ra cái bọc trăm trứng, rồi vất ra đồng, nở ra trăm con mà con nào con nấy đều phương trưởng. Rồi trăm con chia tay: 50 theo cha xuống biển ắng tin, còn 50 con theo mẹ lện núi lập ra nước Văn lang, hiểu là văn hóa vẫn giữ được nguyên lý Mẹ, lấy văn làm nền, võ chỉ là thứ yếu, nên quen nói văn võ tức văn trước võ.

Ðó là tóm ít trang đầu huyền sử Lạc Việt: ý nghĩa thâm sâu mà vẫn thiết thực vì nó tàng ẩn ngay trong những cử chỉ coi như tầm thường, nên con cháu không nhận ra được. Ðó chính lá truyện mẹ Âu cơ đã nhấn mạnh trên nền Minh Triểt mà sau được diễn lại trong Kinh Dịch rằng: "Thái cực sinh lưỡng nghi" là cái bọc chia ra hai bè: mỗi bè 50 con. bè lên non biểu tượng trời, bè xuống bể biểu tượng đẩt. Vì trời đất phải thông hội nên mẹ mang tên chim nước để có đường thông với rồng ở dưới nước. Ðó là chiều kích vũ trụ của câu truyện được áp dụng vào đời sống thường nhật như đẻ cái bọc trăm trứng. Ðẻ kiểu chim (điểu tục) tức đẻ trứng rồi ấp ra con. Truyện kể mẹ vất bọc ra ngoài đồng là theo lối nông nghiệp và con nào con nấy đều phương trưỡng tức theo lối bình sản, là quân phân tài sản ruộng vườn, nhờ đó không con nào vô sản hết, nước mẹ không có vô sản để nảy sinh chế độ nô lệ ca 36n cứ trên vô tài sản với hữu tài sản. (Nói chữ bè để nhớ tục hát trống quân xưa, nơi nào có thể thì tổ chức bên bờ sông có núi: bè nữ tự núi xuống, bè nam tự sông lên)

15.

Còn việc 50 con theo mẹ lên núi thì không là núi cho bằng là một cực cao đối với cực thấp biểu thị bằng biển sâu để chi hai đối cực của bất cứ vật gì, ở đây nó chỉ bên này non nhân, bên kia nươc trí, đúng là Mẹ lân tuất yêu thương, Cha mưu trí thao lược, nhưng mẹ vẫn ở thế tay trên, nên 50 con theo mẹ lên núi lập ra nước Văn lang, chứ không phẩi 50 con theo cha xuống biển. Nước Mẹ lập ra thì nhất định phải là Văn lang quốc, tức văn trị chứ không phải cha đâu để mà võ trị theo lối phàp gia bá đạo. Văn võ trái ngược nhưng trong Văn lang thì hai đàng vẫn hòa hợp, ngầm chỉ bằng cánh Ðồng Tương mà trước đã chỉ bằng cái bọc trăm trứng. Ðó là mối liên hệ ngầm mà nơi Phục Hi Nữ Oa biểu thị bằng hai đàng vãn quấn lấy đuôi nhau. Phải quan trọng điểm này vì nếu đánh mất ý thức về điểm sơ nguyên nọ thì sẽ đọa ra các thứ duy: duy tình hay duy lý, duy cha hay duy mẹ, duy nào cũng là nghiêng lệch và sẽ gây khổ lụy cho lòai người như ta thấy nơi duy vật.

Ðẻ con, nuôi con, rồi bây giờ đến dậy con thì mẹ xuất hiện dưới dạng thức Nữ Thần Mộc dậy anh em Lộ Bàn Lộ Bộc biết làm nhá chử đinh. Nử thần Mộc lá hánh mộc số 3, còn Lộ Bàn Lộ Bộc chỉ Lạc Việt. Chữ Bàn cũng đọc là Bang nên cùng họ với Hồng Bàng. Còn Lộ Bộc là một tên khác của Việt tộc, gọi là Bộc Việt, nên Bách Việt cũng có khi gọi là Bách Bộc. Nhà là nơi ta hướng lòng về, bao nhiêu của quí đều để trong nhà. "Của bay ở đâu thì lòng băy ở đó". Nơi qui tụ của đaọ Việt là Ðạo làm Người, là "Vi Nhân", nên Mẹ dậy con làm nhà mà không dậy gì khác.

16.

Tại sao nhà chữ đinh? Thưa chữ đinh có nét ngang trên, nét dọc dưới. Nét ngang chỉ người trong xã hội gọi là dân. Nét dọc chỉ người đại ngã tâm linh gọi là nhân. Con người toàn diện phải là người có cả ngang cả dọc, cả nhân cả dân. Nét dọc cũng gọi là đường kinh, nét ngang là đường vĩ. Làm người đầy đủ không những phải có vĩ ngang, mà còn phải có kinh dọc (sách dậy chiều dọc này gọi là kinh điển). Tiền nhân ta nói bóng: "người là hoa đất ngọc nước". Hoa đất là dân, ngọc nước là nhân. Bài học của Nữ thần Mộc quý vô cùng: ít nền văn hóa có được cả hai. Duy vật thì ngang phè phè đã rõ, nhưng duy tâm cũng không mấy hơn, vì nét dọc của duy tâm thường là giả tạo, thiếu sót, nên gọi là "kinh kinh" cứng ngắc: thiếu sự mềm giẻo vốn đi với cả vĩ lẫn kinh. Thiếu nét lưỡng thê nên không thể có đời tròn đầy viên mãn gồm cả ngang lẫn dọc. Các vị thánh nhân theo nho chính là những người đã thành nhân (thành giả thánh dã), nên ngày tế các vị phải là ngày đinh tháng 2 vá 8: tức xuân thu nhị kỳ. Trước khi hội hè đình đám bao giờ cũng đánh ba hồi trống để nhắc nhở bài dậy của Nữ thần Mộc (Số 3) cũng có tên là "Cửu thiên huyền Nữ (số 9). Cửu là chín chứ không là cựu (cũ) như có ngừơi viết thế trong quyển nghệ thuật Việt. Số 3 là số sinh, Só 9 là số thành. Vậy phải viết Hùng Vương thứ ba truyền ngôi cho con thứ chín, đừng viết khấc, vì đây là huyền số, không phải để đo đếm, mà đem ra đếm với đo rồi quay ra hỏi sao có 18 đời Hùng Vương mà những hơn hai ngàn năm!!!

17.

Hùng Vương là con của Âu Cơ tổ mẫu, cháu của Thái Mẫu nữ Oa, học mẫu giáo tại trường Nữ Thần Mộc nên kể là được học hành đúng cỡ. Ta hãy theo dõi công việc của Hùng Vương. Trước hết là việc xin job được hiện thực trong cuộc thi gia chánh. Vua Hùng vương thứ ba muốn truyền ngôi cho con theo kiểu kén hiền tài (meritocracy) nên ra đề thi con nào làm được món ngon hơn cả thì truyền ngôi cho và Tiết Liệu đã đỗ với cặp bánh vuông tròn, vì cặp bánh hàm ý nghĩa đất trời. Ðó là nhờ Mẹ dậy thì tất phải đỗ và nay đã có giấy mời ra trị nước. Ta hãy xem vua Hùng xoay sở ra sao: ta thấy ngài cai trị nước bằng Huyền Thuật, mà có nơi gọi là Gậy Thần. Gậy Thần có chín đốt, ai biết nắm vào đốt thứ năm thì coi sống chết như nhau tức là tu đến độ đắc đạo không còn sợ chết: coi chết với sống là một. Cằm vào đốt thứ năm là bám sát cái qui của Nữ Oa Thái Mẫu hay cái bọc của Mẹ Âu Cơ, tức hội nhập hai thái cực vào một. Ðó là lưỡng nhất tính. Như vậy Hùng vương là một hiền triết cũng quen gọi là Nghệ tổ nghĩa là có tài cai trị. Tài cai trị được đo bằng trong nước ít có pháp luật, vì cai trị ít bao nhiêu thì tỏ ra giỏi bấy nhiêu. Càng nhiều luật dân càng khổ, gian trá càng nhiều. Văn lang quốc rất ít luật, nên truyền đời được năm ngàn năm mà vẫn êm thắm, con cháu được hưởng ân huệ cho mãi đến đầu thế kỷ này mới mất vaò tay ý hệ ngoại lai tràn đầy pháp luật. Trên đây là mấy nhân thoại làm mẫu. Có thể thêm 15 truyện trong Kinh Hùng cũng đều hơi hưởng nhân thoại như vậy.

18.

Quan sát những truyện trên ta thấy tất cả các bộ số đã xuất hiện trước khi có nước Tàu. Tàu xét như một dân tộc mới xuất hiện lối thé kỷ thứ 15 BC. Nơi phát xuất không tìm được ở trên đất Tàu lúc ấy mà phải tìm ở mạn Ðông và Nam mãi về sau mới là của Tàu, tức từ sông Dương Tử trở xuống cho đén Thái Bình Dương. Nơi đây ta mới gặp các huyền só và những dấu đặc biệt của các nhân vật vừa kể trên mà nét lớn lao nhất là vai trò nổi của Mẹ. Như trong bộ ba Tam Hoàng của Nho, ta thấy Oa Hoàng không những nắm cái Qui, lại còn ở giữa Phục Hi và Thần Nông tức là làm chú, nên trong cổ sử chỉ có Nữ Oa đưọc gọi là Oa Hoàng. Ðịa vị đó truyền xuống qua các đời sau, trong đó có tích 50 con theo mẹ lên núi lập ra nước Văn Lang, nơi Mẹ vẫn giữ chức chủ tịch: Bà Chúa Xứ, chứ 50 con theo cha xuống biển thì bặt tin tức. Sự thực đây là trang huyền sử chỉ sự phân cực phổ biến trong vạn sự vạn vật. Nhưng nếu cần cho vào lịch sử thì 50 con lên mạn đất liền là Ðông Á, còn 50 xuống biển là Thái Bình Dương, mà từ trước tởi nay không được nhắc nhở đến, vì còn đang thời quẻ Minh Di = Ánh sáng bị thương, nên sách gọi là "Tam phần" có nghĩa mồ chôn = bị chôn giấu./.

<<

>>