THÁI BÌNH MINH TRIẾT I

Kim-Ðịnh

<<

>>



CHƯƠNG IV: "Ôi LINH MẪU HÃY ÐƯA CON VỀ CÙNG."
(Eternal Womanhood leads us on high.)


22.

Ðó là câu hát trong quyển sách thời danh Faustus của Goethe, một thi hào triết gia Ðức thế kỷ 18. Xét về văn tài người ta đặt ông ngang hàng với Shakespeare, nhưng ông hơn về mặt triết. Về mặt này nét đặc trưng của ông là cảm thấy triết học duy lý đói lả tinh thương, nên ông đã phât động phong trào lãng mạn: cố đưa tâm tình vào triết. Ðọc Faustus ta cảm thấy ông gần Việt nho hơn hết các tác giả tây âu, vì ông đề cao nguyên lý Mẹ mà có lúc ông gọi là Mater gloriosa = Mẹ vinh quang, coi đó như ngu ồn gốc sự cứu rỗi. Tiếc rằng cái nhìn thấu thị đó không được tiếp nối để đi vào tâm linh, nên Mẹ vinh quang không đi xa đươc bằmg Nữ Oa thái Mẫu với phụ tá là Nữ Thần Mộc dậy các con làm nhà. Thành thử văn hóa tây âu cho tới nay vẫn bị tiếng là thiếu nhà (homeless) tức thiếu nơi qui tụ nhất quán.

23.

Trở về Việt Nho ta cũng hát được như Goethe, nhưng thay vì xin Mẹ dẫn ta đi lên trời thì ta xin Mẹ đưa ta về cùng Mẹ, hay đưa về lòng, nên làm được liền, không cần đợi Mẹ đến đưa đi, mà tự ý đi. Trời được hiểu là Tâm. Về trời có nghĩa là trở lại thân Tâm, nơi có trời cùng đất. "Vạn vật giai bị ư kỷ". Kỷ cũng gọi là Ðại ngã. Ðó chính là Quê Mệ: quê Mẹ là chính Mẹ, cho nên nói đi lên có nghĩa là đi vào . Vào đến cùng cực thì gặp Mẹ 9 vũ trụ, mà sách Ðạo Ðức Kinh gọi là "Vũ trụ chi Mẫu", cho nên cuối cùng thì câu trên đổi ra; "Ôi Linh Mẫu hãy đưa con về cùng."

Ðó là nội dung con đường Ðạo, vì Ðạo là đem ngòai kợp với trong: đem ngoại vi ý thức hòa hợp với Nội Tâm tiềm thức, mà nho gọi là "hợp nội ngoại chi đạo dã". Hợp được ngoai với trong là Ðạo. Còn nghiêng về một bên đều không là Ðạo. Kinh Dịch định nghĩa đạo là;" nhất âm nhất dương chi vị đạo"= một âm một dương mới la đạo. Duy dương bẩt thành, độc âm bất sinh, đều không là đạo.

24.

Việt lý đã mặc cho Ðạo một màu sắc gần gũi thâm tình hơn nữa khi gọi nội âm là Khôn mà ta dịch ra từ ngữ ngày nay là nguyên lý Mẹ (còn ngọai dương là Càn là nguyên lý cha). Huyền sử đặt cho Ðạo tòan những tên Mẹ như Nữ Oa, Âu Cơ, Nữ Thần Mộc, Bà Chúa Xứ v.v. Nữ Oa được xưng tụng là Thái Mẫu vì sinh ra loài người, hay nói khác là có nhiệm vụ linh phối, tức phối hợp trơì với đất. Trời đất trong trang huyền sử này gọi là Phục Hi, Thần Nông, thái Mẫu Nữ Oa ngự giữa. Nếu kể có hai thì bỏ Thần Nông, chỉ còn Phục Hi, Nữ Oa và trình bày hai vị đang cuốn lấy đuôi nhau. Thái Mẫu giữ cái Qui, Phục Hi cằm cái Củ. Ðó là điều khó hiểu cho đơi sau như ông Robert Van Gulik phàn nàn trong quyển Vie sexuelle. p 84. Vậy qui chính là thập tự nhai, và cũng là cơ cấu con người đại ngã thành bởi đức trời đức đất. Ðức đất là nét ngang làm hành thổ, nét dọc là đức trời, cả hai làm thành cái Qui, tức là qui tắc cho muôn lòai. Còn Phục Hi cầm cái Củ để đo 4 góc gọi là cá (4 góc nhà Thái Thất) Cá chỉ những hiện tượng có giới mốc, nên thuộc vòng ngòai có tính cách hạn hẹp hơn Qui, nên nguyên lý Mẹ phải trội hơn. Ðó là tình trạng chung của văn hóa loài người ở khởi nguyên, đâu đâu cũng như thế: cũng trải qua giai đọan Mẹ trước cha.

25.

Tinh trạng đó gọi là mẫu hệ hay mẫu tộc, đôi khi cả mẫu quyền, mẫu cư... nhưng dần dần chuyển sang phụ hệ với phụ quyền lấn át Mẹ làm cho văn hóa trở nên duy dương. Người ta quen gọi là văn minh đực rựa. Truyện đó xáy ra tự lúc có tư sản, mà tư sản là do óc chiếm đọat của văn minh: Khi một số người mạnh thâu đoat hầu hết tài sản vào tay để trở nên chủ, bắt mọi người vô sản làm nô, thì đấy từ đấy có giai cấp chủ nô. Khuynh hướng chiếm đoạt đó dần d ần mở rộng đến đàn bà từ đó bi coi là tài sản của đàn ông, y như một sản vật có thể mua bán. Trong hôn phối nhiều nơi xưa còn dấu vết mua bán nọ như trong tục thách cưới: đòi bao nhiêu tiền mới gả con... Ðiều này được biểu lộ rõ về mặt xã hội bằng định chế phụ hệ bao cả phụ tộc lẫn phụ quyền, tức đứa con được coi như của cha, chứ mẹ chỉ có công dưỡng dục bên ngòai thôi. Nhưng thực tế với đứa con thì công mẹ lớn gấp cả trăm lần: nào mang nặng đẻ đau, nào bú mớm ẵm bồng. Ngạn ngữ quen nói: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm. Còn cha chỉ có phát tiêm chốc lát mà đã được đền bù phụ trội trong lúc đó rồi. Thế mà đòi đẩy phụ quyền đến độ gẩy mẹ ra khỏi sổ công lao sinh dưỡng đứa con, thì quả là một sự chênh lệch và bất công thô tục.. Bên Việt nho chưa đến nỗi đó, có bị nhưng vừa phải như cháu bà thì gọi là ngoại, cháu ông là nội. Ăn vụng chưa kịp chùi mép.

26.

Ðấy là mới nói về mặt xã hội, chứ về mặt tinh thần thì sự bát công gây nên nghiêng lệch hẳn, làm này sinh tai họa lớn hơn nhiều: đó là tạo ra nền văn minh duy dương, tức là duy lý không biết chi đến tinh ngừơi. Vì lý là lý cha, tình là tình Mẹ. Trong con người tình trội vượt hơn trí gấp 9 lần, nên bỏ tình là gây nên sự nghiêng lệch trầm trọng, khiến cho văn minh trở nên tàn bạo, phi nhân như ta thấy rõ nơi các xã hội chuyên chế. Ðó là nền triết duy lý cùng cực, chối bỏ mọi tình cảm: tình người, tình nước, tình nhà, nên đã trở thành phi nhân đến độ xéo đạp lên tự do nhân phẩm con người. Bên các xã hội tự do không đến nỗi tệ như thế là nhờ tình người cũng như tự do nhân phẩm còn được kính nể, nhưng đó là nhờ lương tri săn sóc, chứ không do triết lý hay đạo học. Vì thế bầu khí xã hội vẫn là duy vật, tiếng nay quen nói là xã hội tiêu thụ, là xã hội tranh đoạt, mầ không là xã hội tâm linh với tinh thần cộng tác, đùm bọc. Muốn được vậy cần phải lập lại nguyên lý Mẹ, và đến đây ta thấy văn hóa Việt có thể đóng góp phần của mình.

27.

Vì nơi này mẹ vẫn là "Bà Chúa Xứ" tức nguyên lý mẹ vẫn bám sát nền văn hóa của nước như được biểu thị bằng nhiều trang huyền sử, mà nổi hơn cả là tích Âu Cơ tổ mẫu đẻ ra cái bọc trăm trứng . Mẹ sợ liền vất ra ngoài đồng. Thế mà trăm trứng đều nở ra trăm con: và tất cả đều phương trưởng. Câu truyện cũng theo một hướng như Thái mẫu Nữ Oa đội đá vá trời, tức nguyên lý mẹ vẫn nổi vượt, nên hay nói tới mẹ mà ít nhắc tới cha. Chính 50 con theo Mẹ lên núi lập ra nước Văn lang, tức nước được thấm nhuần nguyên lý Mẹ, nên phải là Văn Lang lễ trị, chứ không là Võ Lang hình pháp. Chớ có lo mẹ sẽ đẩy cha ra vì lâu lâu cha cũng còn lẻn về thăm mẹ trên cánh Ðồng Tương, nên hễ có mẹ tất có cha. Còn nếu đặt cha lên trên là sẽ khó lòng cho mẹ. Mẹ đẻ ra con, nuôi con nên người, rồi đưa con đi lập ra nước Văn Lang, tức nước được xây trên mẫu mực gia đình đầy tình thâm tniết. Lại còn luôn luôn theo dõi để giáo huấn con, như trong truyện Nữ Thần Mộc.

28.

Ðây là câu truyện vắn tắt có một dòng mà ý nghĩa bao la như vũ trụ, nên sau Nho gọi là Thái Thất như hình bên, gồm ba tầng chỉ ba đợt con người.

Một là con người chất thể chung với con vật lo về ăn, mặc, ở với làm, cốt để giữ đời sống sinh lý hoàn toàn ngoại vi.

Thứ đến là con người văn hóa lo về lý trí, tâm tình, văn học nghệ thuật: thi, ca, nhạc, họa... Ðây là đợt riêng biệt cho con người.

Ðợt ba con người tâm linh lo đi đến chỗ chí thành như thần. Con người siêu lên đợt trên hoàn toàn nội tâm, con mắt không thấy được nên cũng gọi được là Vô, là Trống, như ta có thể thấy rõ trong Trống Ðồng có ba vòng chỉ thiên, điạ, nhân náy. Người lý tưởng phải gồm được cả ba. Tuy đợt chất thể là chung với con vật, nhưng không được khinh khi. Văn hóa trọn vẹn phải lo cho mọi người no đủ, vì đói thì chẳng làm được gì về văn hóa, văn học cả, nên văn hỏa nào không móc nối với con người sinh lý là nền văn hóa nguy hại nhất làm cho con người mất khả năng mở lển đợt ba thì rõ ràng là thiếu nguyên lý Mẹ, mà nguyên lý Mẹ rất dễ mất, vì là đợt ẩn sâu trong tâm hồn.

29.

Nếu ta đẩy sự nghiên cứu đến cùng tột, đến chỗ nhà Phật gọi là lân hư (lân cận với chỗ hư không) tưc là đến chỗ giáp giới giữa Hữu với Vô, nơi Vô đại diện Mẹ, Hữu đại diện Cha, thì Tây âu là cha, duy dương với siêu hình là Hưũ thể học: to be. Ấn độ là Vô nhị (advaita), còn Việt là không có mà cũng không không (to be by not Being). Ðó là chỗ Lão tử gọi là "Hữu Vô tương sinh," Còn Nho gọi là "Thái cực nhi vô cực". Nếu lấy vô làm nền thì phải n âng đỡ cái Vô biểu thị bằng những cái yếu ớt bé nhỏ, vì thế mà có tục tả nhậm, mà ý nghĩa là nâng đỡ cái yếu (phù yểu). Trong đường tu tiến thì lấy việc vô tư vô vi làm đầu. "Dịch vô tư dã, vô vi dã" Cố bỏ hết cái có, như không tưởng tượng , không suy lý, không nghĩ gì cả, chỉ sửa soan cho tâm hòn trống rỗng đặng sẵn sàng nhận lấy. Ðó là ý Kinh Dịch khi nói: "Vô tư dã, vô vi dã". Tại sao nói nhận lấy mà không nói làm ra? Thưa vì làm ra là do lý trí, là nhân vi. Phải là cái gì ban ra cho mới là do thiên, do tiềm thức cộng thông, mà những cái đó mới có giá trị trường tồn.

30.

Chính quẻ Khôn làm nảy sinh phép Thiền. Vì Khôn là chịu lấy, còn Kiền là làm ra. Cai làm ra là do lý trí không sâu xa bằng cái đón nhận tự trời. Chữ Thiền (cũng đọc thiện là lễ tế đất, đi với Mẹ đối đáp với lễ tế phong, là lễ tế trời đi với cha.) người Tàu đọc là shản. Việc làm tiêu biểu thì như nhau vì tế thiện ở tại quét đất cho sạch để làm bàn thờ. Thiền cũng thế phải quét lòng cho sạch, không còn để gì về dĩ vãng hay tương lai, chỉ hướng lòng vào "ở đây và bây giờ": không cho lòng chạy đi chạy lại giữa dĩ vãng và tương lai, đặng cho lòng diụ xuống, trở nên tĩnh lặng đặng chịu láy ánh linh quang loé lên trong tâm hồn và làm nảy sinh hiện tượng giao chỉ: là chỉ trời (tiềm thức) giao thoa với chỉ đất (là ý thức) mà gây nên thần thức. Nho gọi là phối thiên phối điạ. Và đó là phép đi kém với Tam giáo Ðông Phương, cả ba đều có thiền, đều nhấn mạnh trên Vô, trên nguyên lý Mẹ.

31.

Một tên huyền sử nước Việt có ý nghĩa sát với Thiền là Giao Chỉ, tức chỉ trời chỉ đất giao thoa (tiềm thức giao thoa với ý thức) nên đã được minh hoạ bằng Nữ Oa Phục Hi quấn lấy đuôi nhau. Ðuôi đây phải hiểu là chõ chí cực của con người, cuả sự vật, được Trang tử định nghĩa là "Ðạo vật chi cực". Cùng cực của bất cứ cái gì hay việc gì cũng đưa tơi Ðạo. Sách Trung Dung chỉ thị điều đó bằng câu "Chí Trung"trong hết mọi việc và gọi là "Dung" thành ra tên sách là "Trung Dung" nghĩa là tìm cái trung trong hết mọi việc, bất kỳ to hay nhổ, vì ở bất cứ việc naò to cũng như nhỏ đều có cái trung của nó, hễ tìm ra được độ trung là tìm ra chỗ chí cực. Ðó là câu nói trong quyển Tâm tư: "Tìm cái phi thường trong những cái thường thường". Vì thế người quân tử làm cái gì, bất cứ to hay nhỏ cũng làm tới chỗ cùng cực: "Quân tử vô sở bất dụng kỳ cực" ÐH2. Lý tưởng của quân tử là "chỉ ư chí thiện" = đạt tới chỗ thiện cùng cực, mà chí thiện là "Chí Trung Hòa" được biểu thị bằng sự giao hợp, vì đó là việc cao cả nhất mà con người có thể làm, vì là tác động tạo dựng, mà không phải tạo dựng việc thường, nhưng là sáng tạo nên con ngưới. Nên đó chính là hình thái uyên nguyên của Thiền tức là của Chí Thiện làm nảy sinh không những hạnh phúc, mà còn là diễm phúc như ta có thể thấy hình ảnh trong trống đồng như sẽ được bàn ở những chương sau./.

<<

>>


Mấy ý tưởng có thể dùng sau:

Bộc châu (là của Việt) có huyện Táo châu ở Tề (civ I 770). Nói khác đới vua Nghiêu thì nước Tàu mới là một huyện (đọc là Ðào) của Việt gọi là Bộc châu. Ðời vua Nghiêu thì toàn cõi nước Tàu nay còn là của Việt trừ có một huyện trong Bộc châu là của Tàu.

Ðông sơn classic expression of préhistoric and protohistoric bronzes metalliques Ðỉnh cao văn hóa. Hòa Bình bao quát toàn vùng cả Thái, Mên, Som rong Sen.

Không có người Tàu chính cống chỉ có Việt hóa Tàu sớm hay muộn. Vua đầu là nhà Châu họ Cơ (Châu Võ vương là Cơ Phát) rồi tới Hán Man quê ở Ngô Việt. Tàu như nay mới có tự năm 221 nhưng chưa hẳn vì vua còn là Man, tên nước còn là Tần. Câu trên giúp cho ta nhận họ với Tàu. Người Việt không có quyền đòi đất nào bên Tàu, vì các đất ấy là của người Việt đã hóa ra Tàu.

Ðông Sơn là một culturel synthesis (228,10) Trang trí Trống Ðồng là maritime tức Ðanê.