THÁI BÌNH MINH TRIẾT I

Kim-Ðịnh

<<

>>



CHƯƠNG III: DƯỚI BÓNG MẸ HIỀN


15.

Bóng Mẹ hiền đây xin được hiểu là dưới ảnh hưởng của nền Minh Triết đầy đủ nguyên lý Mẹ. Ðó là điều họa hiếm. Hầu hết chỉ còn có cha, tức duy dương, duy trí, duy vật.

Nói tơí Mẹ hiền tự nhiên liên tưởng tới cha dữ. Ðó không phải bất công, mà chỉ là kiểu nói bình dân có phần hơi mạnh để tỏ tính của hai đối cực: bên nhu bên cương, bên tròn đầy bên bắt góc. Cương mà không được nhu thấm nhuần thì dễ trở nên bạo hành tàn nhẫn. Vì thế nếu phải chia ra hai cột thì bên Mẹ là yêu thương vô bến bờ, chuyên nâng đỡ đời sống. Bên cha là tăng quyền uy, bắt đi sát kỷ luật nghiêm khắc. Bên Mẹ là hòa bình , bên cha là hiếu chiến. Bên mẹ là tích tụ. Bên cha là phân tán. Bên Mẹ là lệ làng. Bên Cha là pháp nước. Pháp nước thì chung cho toàn quốc, có tính cách trừu tựơng, tự trên áp đặt không hợp cho mọi nơi được. Còn lệ làng là của từng điạ phương hợp tình hợp cảnh vì do dân dựa theo kinh nghiệm mà đưa ra nên có tính cách bình dân hơn hẳn. Bên mẹ là nông thôn đồng ruộng, văn hóa. Bên cha là thành thị, văn minh, thương mại. Bên Mẹ là nhân aí yêu thương. Bên cha là trí mưu tính toán. Nói gọn là: "mẹ non nhân, cha nước trí".

16.

Tóm lại nếu phân ra được thì ai cũng nhận bên mẹ. Luật Manu nói mẹ đáng mến ngàn lần hơn cha (W. Durant 494). Tuy nhiên không vì mẹ đáng yêu mến hơn mà bỏ cha được. Bởi như đã nói trên: mẹ cha chỉ là đại biểu cho hai thái cực. Kinh Dịch nói "duy dương bất thành, độc âm bất sinh"không được chọn một bỏ một. Lý tưởng là làm sao giữ được cân đối. Theo tiền sử ở thời thái sơ gọi là văn hóa thì điạ vị mẹ nổi vượt nên có an hòa, có cân đối , nhưng đến đời văn minh thì cha lấn mẹ, vậy là mất thế quân bình. Bí quyết giữ thế quân bình ở taị nâng đỡ bên mẹ: nâng đỡ bên yếu, gọi là tinh thần phù yểu, biểu thị bằng tục trọng tẩ (tay tả yếu hơn nên được dùng để chỉ bên yếu cần nâng đỡ) có vậy mới giữ được thế bình quân giữa âm và dương để làm nên cõi người ta.

17.

"Cõi người ta" phải có bầu khí Thái Hòa để đúng với câu: "thiên sinh, địa dưỡng, nhân hòa". Muốn cho cảu trên trở nên gần gũi và thắm thiết cùng cực thì văn hoá Việt dùng hình ảnh mẹ cha. Thay vì nói thiên sinh mẹ dưỡng" thì nói "cha sinh, mẹ dưỡng", nội dung như nhau, chỉ khác lối trình bày: nói "cha sinh mẹ dưỡng" là rút cái bao la thiên địa vào tầm mức nhỏ cho con người dễ thâu nhận, chứ chân lý vẫn là một, gọi là "thiên điạ vạn vật nhất thể". Theo đó thì cái thực cho một phần cũng là thực cho tất cả = một cọng cỏ cũng giá trị như trời đất. Nói thiên sinh địa dưỡng hay nói cha sinh mẹ dưỡng cũng thế: đứa con phải là sản phẩm của một tác hợp tràn đầy ái ân thâm thiết, nên sản phẩm phải được định tính bằng chữ Hòa chữ Hợp. Nói nhân hòa cũng như nói Hòa là con người. Thiếu Hòa không ra người được. "Bĩ chi phỉ nhân". Muốn ra người phải là quẻ Thái. Có đạt Thái Hòa thì con người mới đạt cùng cực là Ðại Ngã Tâm Linh. Ðó cũng là cứu cánh của con người rồi đó.

18.

Thế nhưng trong thực tế con người chỉ đạt những bước hòa nho nhỏ cỡ lương tri thường nghiệm, nghĩa là những hậu quả bé nhỏ còn đầy mâu thuẫn. Kinh Thánh có câu khuyên người cần hiền lành như chim bồ câu, nhưng lại phải khôn ngoan như con rắn. Câu đó phảng phất lý tưởng tiên rồng, vì cũng có chim chỉ mẹ và rắn chỉ cha. Nơi Việt tộc thì tiên chim và xà long đã gặp nhau trên cánh "Ðồng Tương". Nói cánh "Ðồng Tương" là nói lên mối Tương quan thân mật cùng cực như thấy được trong Trống Ðồng hình chim Âu đang đưa cái hôn nồng cháy vào tận cửa họng thuyền rồng. Thực không thể tả cảnh ái ân cách thắm thiết táo bạo hơn, nhưng cũng thanh tao rất mực không thể hơn được nữa. Hình ảnh ấy nói lên sự thực hiếm có trên đời là nền Minh Triết tròn đầy gồm cả mẹ lẫn cha mà tiền nhân ta gọi là "Giao Chỉ" với nguyên nghĩa là chỉ trời chỉ đất giao thoa. Giao thoa được cùng chăng là do con người có làm tròn nhiệm vụ "Nhân Hòa" cùng cha ông. Trong thực tế ở khắp nơi tất có nhiều cuộc giao chỉ, nhưng hầu hết đều ở đợt lương tri, chứ chưa đạt đợt triết lý, nên thiếu những lâu đài trường cửu như nơi Trống Ðồng. Lác đác đó đây cũng có gặp chim và rắn, nhưng lại trong thế giao tranh như thần điểu Garuda đang mổ rắn Naga bên Ấn độ, tức là chim rồng không gặp nhau trên cánh Ðồng Tương, mà trên cánh đồng tương tranh tương đố. Bên Perse còn tệ hơn khi cho thần lành diệt thần dữ. Ðó là lấy dương làm(?) tâm, đi đến thuyết nhị nguyên đối kháng, y như vật biểu hầu khắp nơi đều không có chim trời đi với rắn nước, mà nếu có chim thì hầu hết là lòai chim ăn thịt thứ dữ, hay toàn loàii ác thú 4 chân, nên đều là tương tranh tương đấu, chứ không có tương ái tương hòa.

19.

Ðiều ấy có nghĩa là trong hết mọi chặng con người chưa thành tựu được cảnh Thái Hòa trong "tình lý tương tham, tri hành hợp nhất". Sâu xa hơn nữa thì ý thức phải hợp với tiềm thức, nói kiểu siêu hình là Hữu phải ôm Vô. Hữu là ý thức là lý trí, còn Vô là tình là Tâm (tâm thuộc tiềm thức): hai diện đó phải hòa phải hợp, nếu không thì gây ra tâm bệnh thường là loại schizophreny có nghĩa là chẻ đôi tâm trí, vì thế cũng gọi được là split personality= bản lãnh chẻ đôi. Người bị chứng đó mắc đầy mâu thuẫn, mảnh mún, rời rạc, thiếu nhất quán. Không có được một bản ngã hùng mạnh. Ðây là đợt cá nhân. Bước sang đợt gia đình thì "phu thê giao bái" đốc ra lối "chồng chúa vợ tôi" theo kiểu luật rừng yéu thua mạnh được.

20.

Thế rồi lên hai cấp trên là "trị quốc bình thiên hạ" thì là thói mạnh lấn yếu, trước là nước lấn nhà: đốc ra độc quyền chuyên chế. Tổ tiên ta quen nói "nhà nước" rồi "làng nước" nối hai lại một, nhưng khi rơi vào tay chuyên chế thì cả làng lãn nhà đều bị lấn át. Ðến chỗ cùng cực thì chỉ còn quốc tế chứ nước cũng bị đe dọa biến luôn dưới sức búa bổ "Tam Vô" là vô gia đình, vô tôn gáo, vô tổ quốc. Vô tôn giáo là diệt tâm tình. Vô gia đ 1nh là diệt tổ ấm nuôi dưỡng xàc thân, diệt luôn tâm hòn với tình âu yếm thiết tha cuả gia tộc. Cuói cùng đến nước là mói tình cao quí giữa đồng bào cũng vô luôn để dành chỗ cho quốc tế. nhưng đó chỉ là cái tên trừu tượng rỗng tuếch được dùng để đày đọa con người, chứ có còn nội dung người đâu. Tất cả tai họa đó đều tại lỗi triết học duy trí đã đánh mất Nguyên lý Mẹ.

21.

Tóm lại bầu khí của nơi giữ được nguyên lý Mẹ là bầu khí Thái Hòa an vui, sống mạnh cả nhà lẫn nước. Plato đã nói được một câu chí lý rằng: "Sự khôn ngoan cùng cực ở tại biết xếp đặt ổn thỏa việc nhà việc nước". Tuy nói được câu đó nhưng không làm được, vì Plato đã không quan trọng hóa nhà cho đủ. không biết đi một đường tả nhậm để bênh vực bên yếu là nhà, nên nhà đã đã bị nước lấn át. Vì thế văn hóa tây âu đi đế n duy dương, duy trí, mất nguyên lý Mẹ, gây nên thứ văn hóa duy lý, thiếu tình, tức cũng là thiếu vui sống... chuyên về võ công ca và bi kịch mà yếu về thơ trữ tình và sinh thú như bên Ðông Á.

Có hai sự kiện lớn lao trong văn hóa kiện chứng cho tính cách còn Mẹ: một là thần cứu tế Lokesvara bên Ấn độ vốn là thần nam, làm phó đức Adiđà bên tây phương tịnh thổ, thế mà khi xuất hiện trên phần đất Việt nho đã mặc xác nữ trở thành Quan Thế Âm Bồ Tát, lại còn bồng đứa con gọi là Quan Âm tống tử, tức là đi ngược hẳn với bên Tây Trúc diệt dục, diệt sinh: li gia cắt aí". Sang đông bộ thì nâng tình lên đến độ làm Thần Nữ, lại còn bồng con, cho con (tống tự). Việc thứ hai Ðức Di Lạc hiện thực câu nói: thứ nhất bộ râu thứ nhì bầu bụng. Bầu bụng thì đã phơi ra quá rõ đủ nói lên hạu quả của sự vui sống. Còn cái miệng thì tuy không râu nhưng lại cười tươi như hoa nở rộ. Bỏ râu đây không là diệt sinh mà là để khỏi che mất cái miệng cười tươi vui sống. Hai sự kiện trên minh họa đầy đủ bầu khí văn hóa có nguyên lý Mẹ: "còn Mẹ ăn cơm với cá. mất Mẹ liếm lá gặm xương"./.

<<

>>