|
TÌM HIỂU TRIẾT VIỆT Đông Lan
Cơ Cấu Việt Nho
Vấn Đề Học Nho Nghiên cứu về nguồn gốc Văn Hoá Việt Nam, triết gia Kim Định xác tín rằng muốn tìm về Văn Hoá Việt, nếu bỏ Nho thì ta chỉ tìm thấy ngọn chứ chưa đến gốc của Văn Hóa, vì Nho Giáo chứa đựng những hằng số của văn minh nước ta. Theo sau bao nhiêu nghiên cứu của triết gia, cũng như gần đây khoa khảo cổ trên thế giới đã chứng minh, sắc dân Bách Việt đã vào và cư ngụ trên đất Tàu ngày nay trước khi có một dân tộc thực sự là Tàu xuất hiện. Thật vậy, về nguồn gốc dân tộc Trung Hoa, dưới ánh sáng mới nhất của khoa học ngày nay, sự việc hầu như được khẳng định là khởi thủy người Trung Hoa là do nhóm dân định cư tại vùng Đông Nam Á đến từ Phi Châu ở đợt thiên di đầu tiên qua ngả Nam Á, cách đây khoảng 60 ngàn năm, tiến đến Đông Á cách đây khoảng 40 ngàn năm trở lại khi khí hậu miền Bắc bắt đầu ấm áp, sau đó từ Đông Á và Đông Nam Á tiến lên phía Bắc Trung Hoa. Đó là những nhóm dân đầu tiên cư ngụ trên nước Tàu mà sau này được gọi chung bằng tên Đại Tộc Bách Việt. Còn người Hoa Hán là kết quả của đợt thiên di về sau từ Phi Châu vào đất Trung Hoa qua ngả Trung Á và Âu Châu khoảng một, hai chục ngàn năm sau, lai giống với những người đã định cư từ trước tại Tàu. Sau những năm lệ thuộc Tàu và Tây, ảnh hưởng của văn minh vật chất đã lấn chiếm tinh thần tự tin của dân tộc, cho nên ta cứ theo chân các học giả Tây phương mà tin một cách mù quáng vào lý thuyết cũ kỹ đã bị khoa học ngày nay bác bỏ để tin rằng Nho Giáo là của Tàu. Thì ngày nay với tinh thần độc lập và dựa trên những khám phá khoa học gần đây nhất, ta tẩy chay những gì chẳng còn mới mẻ và lại không phải là sự thật lịch sử. Rất lâu trước những khám phá mới nhất của khoa học vừa trình bày ở trên, khi đi sâu vào cánh rừng già văn hóa Đông phương, triết gia Kim Định đã nhận thấy có những điểm tương đồng giữa Văn Hóa Việt Nam với nền văn hóa bản địa của Tàu. Khoa khảo cổ đã ghi nhận về việc Tàu không phải là một chủng tộc, không có văn hóa trước chi cả (1-The Origins of Chinese Civilization thuyết trình tại hội nghị Berkeley, 1978 và cập nhật hóa 1980. In thành sách University of California Press, 1983; 2- The Chinese Heritage, Wu, in tại Crown Publisher, New York, 1982. Tiến sĩ Wu vừa là đại sứ kiêm học giả). Do đó, người Hoa Hán chỉ là dân du mục từ Tây Bắc đến và lai giống với dân bản thổ, và về sau trở thành dân nông nghiệp trồng lúa khô. Nhờ có thuận lợi chính trị, họ thống nhất cả một vùng mênh mông như Tàu ngày nay, và công thức hóa các văn hóa bản địa thành Ngũ Kinh và Tứ Thư, nền tảng của Nho Giáo mà ai cũng thừa nhận sau này. Thế nhưng, văn hóa bản địa thuộc lãnh thổ Tàu ngày nay và văn hóa của ta là một. Gia tài tinh thần Văn Hóa đâu chỉ lệ thuộc chữ viết, chế độ chính trị. Văn Hóa là toàn thể các hình thái sinh hoạt của con người trong cách tiếp xử với thiên nhiên và xã hội, thì những yếu tố văn hóa ấy dù có chữ viết hay không, dù có được thành một nền văn học thành văn hay chỉ là nền văn hóa dân gian, đó không phải là điều quan trọng. Quan trọng là cái tinh thần của văn hóa, cái hồn văn hóa, cái tàng ẩn của văn hóa, cái mạch ngầm tương quan liên kết định tính một nền văn hóa mà Lévi-Strauss gọi là Cơ Cấu. Cho nên chỉ cơ cấu mới định tính một nền văn hóa. Cho nên, xét về cơ cấu, ta còn có nét đặc trưng của Văn Hóa Nho hơn cả Tàu. Xét trong lịch sử thành văn của văn hóa Tàu, ta thấy đâu đó những sự tiết lộ về tính chất này. Hãy xem kỹ lich sử văn hóa Tàu và các lời thánh hiền của họ. Chính Đức Khổng Tử cứ lập lại mãi rằng ngài không sáng tác kinh điển, mà chỉ san định, chỉ thuật lại đạo cổ xưa. “ Ngô thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ”(Thuật Nhi- Luận Ngữ q.4). Khi học trò ngài là Tử Lộ hỏi về sức mạnh, Khổng Tử nói rằng: “Đem đức nhu thuận mà sửa đổi, tha thứ cho kẻ vô đạo, đó là cái dũng của người phương Nam, người quân tử theo đạo đó” (Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo; Nam phương chi cường dã, quân tử cư chi - Trung Dung 10). Các thánh hiền mà Khổng Tử noi theo như Vua Nghiêu, Vua Thuấn đều thuộc Tứ Di, mà Tứ Di là Bách Việt. “Trọng Ni Tổ thuật Nghiêu Thuấn, Hiến chương Văn Vũ”(Khổng Tử thuật lại đạo của ông tổ là Nghiêu, Thuấn, Hiến chương lấy của vua Văn,Vũ - Trung Dung 30). “Thuấn sanh ư Chư Phùng, thiên ư Phụ Hạ, tốt ư Minh Điều; Đông Di chi nhân dã. Văn Vương sanh ư Kỳ Châu, tốt ư Tất Dĩnh; Tây Di chi nhân dã.”(Vua Thuấn sinh ra ở đất Chư Phùng, về sau dời đến đất Phụ Hạ và mất ở đất Minh Điều. Ấy là người phiên miền Đông vậy. Vua Văn Vương sinh ra ở đất Kỳ Châu, mất ở đất Tất Dĩnh. Ấy là người phiên miền Tây vậy- Mạnh Tử, Ly Lâu Hạ). Thêm nữa, những triều đại chính của Tàu lại phá đổ Nho mạnh nhất: Nhà Chu tận diệt sách của nhà Thương, nhà Tần đốt sách chôn Nho, nhà Hán xuyên tạc kinh văn (Hán Vũ Đế sai Lưu Hâm làm sách ngụy kinh của cổ nhân gọi là bí thư trong thư viện Thạch Cừ của riêng triều đình. Các nhà Thái học ở kinh đô đều phải dùng sách ở thư viện Thạch Cừ). Và sau này tuy đã nhận Nho nhưng vẫn còn lưu lại hai yếu tố phát xuất từ Tây là hoạn quan và pháp hình để kiểm soát nho sĩ. Ngược lại, nước Việt Nam các làng mãi từ xa xưa luôn luôn lẩn trốn văn minh Tàu, thế mà hằng số của Nho lại nằm sâu trong lòng dân Việt Nam, còn sâu hơn cả bên Tàu. Chế độ tự trị xã thôn với bình sản và tôn trọng con người qua việc nặng về tục lệ hơn pháp luật (phép vua thua lệ làng). Chính trong thời Lê ở nước ta, một thời có óc độc lập chống Tàu hơn hết, cũng là thời Nho giáo phát triển rất mạnh. Đó là vì cái phần trổi vượt hơn hết của Nho là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... là nền tảng của văn hóa Việt Nam, nên vua quan ta chống Tàu nhưng vẫn không chống Nho giáo. Đó là, trong cái tiềm thức dân tộc vẫn thấy hồn của mình ẩn khuất trong Nho giáo, vẫn linh tính cái sứ mạng kế thừa cuối cùng của dòng tộc Việt để đến một ngày đi nhận lại dấu chỉ của mình. Khi nhà Tần thôn tính các nước nhỏ đến khi toàn thắng và nhà Hán diệt nhà Tần mượn danh hiệu Nho để đặt nền móng cai trị, nhưng đó là pháp gia, hình gia chứ đâu phải Nho gia. Vì Nho có nghĩa là Nhu. Nhu vừa là nhu yếu, đáp ứng được những nhu yếu thâm sâu của con người. Nhu vừa có nghĩa là nhu thuận, hiền hậu. Chính vì thế khi Đức Khổng Tử trả lời câu hỏi của Tử Lộ hỏi về sức mạnh, ngài trả lời rằng cái sức mạnh nào? Của Bắc phương hay của Nam phương? Và ngài theo cái đạo “khoan nhu”, “không báo thù kẻ vô đạo” của phương Nam. Đức Khổng Tử trọng Chính Danh, nên câu trả lời của ngài là nét nổi bật của ý nghĩa Nho là khoan hòa, nhu thuận, hiền hậu. Quan niệm này ngược hẳn lại với Nho gia pháp hình của Tần, Hán. Cho nên nói Hán nho làm sa đọa Nho Nguyên Thuỷ là lẽ ấy, và ta gọi Việt Nho để phân biệt với thứ Nho sa đoạ từ thời Tần, Hán cho mãi tới sau này mà các chế độ phong kiến duy trì. Như thế Đạo Nho đã là của Việt tộc từ đời xa xưa, dù có bị tiêu trầm theo bước chân du mục phong kiến, nhưng tổ tiên ta vẫn giữ gìn được phần nào nơi xa triều đình, thể hiện trong đời sống dân quê ở xã thôn. Triết gia Kim Định chỉ làm sáng tỏ Đạo Việt từ lâu đã có sẵn và bảo chứng nằm ngay nơi kinh sách của Tàu. Do đó không lạ gì ta còn giữ được tinh thần của Nho Nguyên thuỷ nhiều hơn của Tàu. Tàu đã công thức hóa Nho Giáo thành những kinh điển đồ sộ như Ngũ Kinh, Tứ Thư nhưng đồng thời cũng du nhâp những yếu tố du mục vào Nho giáo (Thiên tử, hoạn quan, pháp hình, khinh phụ nữ, tập trung tài sản nơi nhà vua) làm sai lạc Nho giáo chân truyền, cho nên triết gia Kim Định gọi là Hán Nho. Việt còn giữ được tinh túy của Đạo Nho nhiều hơn Tàu (Địa vị phụ nữ cao, bình sản, trọng tình hơn lý, nặng tục lệ hơn pháp luật). Đó là những lý do ta cần phục hoạt lại Nho Giáo, dĩ nhiên thứ Nho Giáo chưa bị nhà Tần, Hán làm sa đọa. Triết gia đặt tên là Viêt Nho. Việt Nho có 2 nghĩa như đã trình bày, đó là: 1- Nho của Viêt Tộc, 2- Nho Siêu Việt. Nghĩa thứ hai này là mục đích chính ta cần tìm học. Vì tìm học Nho giáo chân truyền là cách học hỏi theo cái ý nghĩa vượt thoát của từ, hiểu tới nền móng của Đạo, tìm tòi cái Cơ Cấu của Nho. Muốn hiểu Nho thì đọc thêm Ngũ Kinh (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu - Kinh Nhạc đã bị mất-). Đây là một công trình dài, vì không những đó là bộ sách lớn, viết bằng chữ Nho, mà chính là chỗ nó đã bị xuyên tạc, pha trộn những yếu tố du mục của Hán nho làm ta khó nắm được nét nhất quán của Việt Đạo. Bộ sách của Triết gia Kim Định là một kỳ công, khám phá những nét căn cơ của Việt Nho, cho ta có hành trang để khỏi bị lạc vào cánh rừng già kinh điển ấy. Thế nhưng, giữa tình trạng phân tán hiện nay do đủ mọi ý hệ ngoại lai gây ra, chính thế hệ chúng ta, cũng không dễ mấy ai có đủ tĩnh tâm và hoàn cảnh để tìm đọc toàn bộ tư tưởng của triết gia. Lòng ái quốc rất nhiều người đã có sẵn. Nhưng đường về văn hóa dân tộc nếu thiếu định hướng, cũng chỉ là con đường tìm cái ngọn, uống tạm nước sông, hồ. Cội nguồn Văn Hóa Quê Mẹ ở mãi tận thời xa xưa, thời Di, Việt làm chủ nước Tàu, thời tổ tiên ta trồng lúa nước nuôi dân, chiêm nghiệm thiên văn, địa lý, tạo vật để xây nền tảng nguyên lý Âm Dương cho cuộc sống ổn định và hạnh phúc - Cội nguồn Minh Triết Việt Nho. Chúng ta cắt đứt với Nho chính là cắt đứt với nguồn suối cam tuyền của tư tưởng tổ tiên. Chúng ta tìm học Nho không phải là học mớ kinh sách xưa, trì chú mớ chữ nghĩa cũ như thời ông cha ta học theo tinh thần tầm chương, trích cú Hán Nho, Tống Nho. Không. Ta học Nho theo tinh thần khác. Ta tìm lại Việt tính trong Nho, làm sáng tỏ cái uẩn ức của vận mệnh dân tộc mấy ngàn năm lưu lạc. Đó không phải là đẹp lòng tổ tiên sao? Đọc lịch sử quê hương, đã bao lần ta thổn thức, thương dân tộc hàng ngàn năm lệ thuộc, huống gì trăm năm đô hộ, huống gì mấy chục năm xương máu Việt tương tàn. Đã bao lần những bài học lịch sử làm ta xúc động, làm dòng máu Việt sôi sục đau thương, khi danh dự Việt bị chà sát dưới bao gông cùm đế quốc. Nhưng thôi, chuyện xưa đã qua rồi, hồn thiêng dân tộc vẫn còn đây, đưa ngọn bút tài hoa Kim Định khơi mộ phần tiên tổ, tìm được họa đồ quê nước ngàn năm với gia tài tinh thần Việt Nho, ân cần trao lại thế hệ chúng ta. Chúng ta trong những phút tĩnh tâm, mỗi khi lòng yêu nước, thương nòi, nhớ quê dạt dào nổi dậy, xin hãy thắp một nén hương lòng, đi nhận lại tinh anh của tổ tiên, góp công xây dựng cho quê hương lầm than đã mấy ngàn năm, cho có một ngày rửa được mối nhục nhằn dĩ vãng. Những nhà nghiên cứu khách quan trên thế giới đang trả lại giá trị văn hóa của ta trên những công trình thực nghiệm của họ. Nhưng như thế tiêu cực quá. Ai trả lại ta cái giá của những hàng bao nhiêu triệu cái chết- để- mà- sống của con dân Việt suốt mấy ngàn năm chiến đấu chống ngoại xâm và cường bạo? Chỉ để cho một chữ VIỆT còn đứng dưới ánh mặt trời. Không. Ta không thể im lìm chịu phận tiểu nhược mãi. Một dân tộc có nền Văn Hóa Nông Nghiệp ổn định lâu đời nhất trên thế giới phải tới ngày thực hiện sứ mạng của nó. Tìm học Việt Nho để mang Tinh Hoa Văn Hóa Việt sáng soi khắp nẻo trần gian còn chìm đắm trong bóng tối của cái gọi là “văn minh vật chất”. Sau cơn mê vật bản này rồi, nhân loại đang và sẽ cần đến một loại ánh sáng khác. Sắc mầu Văn Hóa Việt Nho.
Hai cái nhìn về Nho Giáo: Hán Nho và Việt Nho Nho giáo xuất phát từ thời khuyết sử và gồm 4 giai đoạn: Một là Hoàng Nho thuộc Tam Hoàng từ 4480-3080 trước T.L. Hai là Di Nho từ vua Thuấn 2255-Vũ 2205 trước T.L. Ba là Việt Nho hay Nguyên Nho (Nội dung Việt Nho được Khổng Tử công thức hóa thành Kinh điển của Nho Giáo), lối Xuân Thu 821 trước T.L. Bốn là Hán Nho cũng là Khổng Giáo từ nhà Chu 1122 trước T.L. nhưng bị sa đọa với sự xuyên tạc của nhà Hán. Hoàng Nho là Nho của Tam Hoàng: Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông. Nho đợt này được chứa đựng trong 4 loại sách gọi là: Tam Phần, Ngũ Điển, Bát Sách, Cửu Khâu. (Xem Chu Lễ, Chương Xuân Quan Tòng Bá, tiết Ngoại sử). Đời Chu có đặt chức quan “ngoại sử” để coi về bộ sách cổ xưa này. Gọi là ngoại sử vì những sách đó có trước khi có dân tộc Tàu. Vì những sách đó đã mất, nên ta chỉ có thể biết một cách gián tiếp qua những nét đặc trưng nổi bật là số 3, 5, 8, 9 trong tên sách. Rồi đến tính cách và phong thái của Tam Hoàng như sống cả trên trời lẫn dưới nước, Phục Hi thì làm ra “Dịch Tiên Thiên”, Nữ Oa nấu đá Ngũ Sắc, Thần Nông khai sáng nông nghiệp. Đấy là loại Tổ đầu tiên lập ra Nho, có thể gọi tên là thời Hoàng Nho. Chính vì sử sách truyền lại rằng nhà Chu “để mất” các cổ thư nên sau này người ra quên hẳn dòng văn hóa Hoàng Nho, và mới có truyện móc nối với Hoàng Đế, và chỉ tính năm từ Hoàng Đế (2696 trước T.L.) trở lên thành ra Phục Hi là 2852 và Thần Nông là 2737 trước T.L. Đợt Tổ thứ hai là Nghiêu Thuấn. Sách Trung Dung chương 30 nói: “Trọng Ni Tổ thuật Nghiêu Thuấn, Hiến chương Văn Vũ” (Trọng Ni - tên Khổng Tử - thuật lại đạo của ông tổ mình là Nghiêu, Thuấn, còn hiến chương thì lấy của Văn, Vũ). Thế mà ông Thuấn, Ông Văn đều là người Man Di (như đã trưng dẫn sách Mạnh Tử ở phần trên ). Vậy ta có thể gọi Nho thời này là Di Nho. Đợt ba là Việt Nho. Việt cũng gọi là Bách Việt là tên mới để chỉ các dòng tộc cũ như Tứ Di hay Man Di. Đó là một liên đoàn các dân bản thổ đã cư ngụ ở nước Tàu trước khi Tàu xuất hiện, gọi là: Viêm Chủng, Tam Miêu, Cửu Lê, Cửu Di, Tứ Di... và quãng sau này gọi chung bằng tên Bách Việt gồm nhiều chi như:
Thời Hán Nho: Khi Khổng Tử thời Nhà Chu, san định các sách và văn hoá cổ xưa, Nho giáo được phát triển. Sau đó, nhà Hán dùng Nho trong chính trị, truyền bá Hán Nho và làm suy tàn cái tinh túy của thời Di Nho và Việt Nho. Khổng Tử có công làm cho Di Nho hoặc Việt Nho trở nên rõ ràng, san định sách vở, đặt thành câu văn rành mạch, hay gọi là “công thức hóa”. Hán Nho làm hỏng cái nguyên thủy của Đạo Nho, tạo thành thứ Nho của triều đình, vua quan, xa rời nền văn hóa dân gian của Việt Nho. Hay nói cách khác, Hán Nho đã làm sa đọa Việt Nho. Ngày nay chúng ta lần dở những trang Huyền Sử xa xưa, truy tầm dấu tích Việt Đạo qua những ẩn số văn hóa để rồi đọc lại Hán Nho theo tinh thần Nguyên thủy của Nho. Đọc Nho theo lối Việt có nghĩa là tìm về Việt Nho của Đạo Việt. Cần đọc Nho xuyên qua ý và lời. Cần đọc Nho vươn lên ý và lời. Cần đọc Nho tới cái tinh túy của Đạo. Đọc Nho như thế là phục hoạt nguồn sống chân thực của văn hóa Việt tộc đã bị Hán Nho làm tiêu trầm. Chỉ có người chủ cũ của Nho mới nhận diện được Nho. Chúng ta là thế hệ kế thừa cuối cùng của Văn Hóa Bách Việt, duy nhất còn mang được đến ngày nay chữ Việt cho danh hiệu quê nước, cho nên việc đọc Nho theo tinh thần Việt Nho sẽ là một bổn phận, một sứ mạng thiêng liêng. Và cũng là một danh dự của con dân nòi giống Việt. Hãy cùng nhau can đảm và tiên phong lên đường tìm về Quê Hương Văn Hóa Việt Mến Yêu.
Nguồn gốc văn hóa Việt và sự thành lập nước Tàu Nước Tàu mới có từ khoảng 20 thế kỷ trước Tây Lịch và chính thức gọi là Tàu là từ đời nhà Tần năm 221 trước Tây Lịch. Khởi đầu của lịch sử nước Tàu trước Tần là nhà Hạ, Thương, Chu.
Ngôn Ngữ của Kẻ Chiến Thắng Sự kiện chính trị xẩy ra ở khắp nơi là hễ nơi nào có kinh đô nhà vua thì ngôn ngữ ở nơi đó thắng thế và dần dần trở thành “quốc ngữ”. Sự kiện ấy đang xẩy ra thời đại này bên Trung Cộng là thổ âm chung quanh Bắc Kinh đang được trợ lực để lấn át thổ âm các địa phương khác. Theo các nhà ngôn ngữ thì Tàu có lối 10 phương âm. Trong đó tiếng Quan thoại được kể là chính thức (do may mắn là tiếng của kinh đô vua ở, nên được đắc dụng, chứ không phải vì có văn hóa cao). Tiếng Quan thoại cũng chỉ ở phía đông Thiểm Tây, bắc Hà Nam, nam Hà Bắc, nam Sơn Tây. Ngoài ra hầu như khắp nơi đều nói giọng của Di Việt gồm có:
Sự kiện ngôn ngữ là ngôn ngữ của kẻ chiến thắng, cho nên khi san định kinh điển thì tiếng phương Bắc đã được chễm chệ ngồi ghế chủ tịch. Đó là một sự may mắn của nước Tàu về mặt chính trị. Sỡ dĩ người ta quen đồng hóa Nho với Hán là vì thói quen chính trị. Nhưng tinh thần không lệ thuộc cú pháp, hay cả ngôn từ. Cũng vì sự lấn lướt của ngôn ngữ mà Hán tộc đã có thể xuyên tạc Nho để người sau không còn có thể nhận ra được đâu là Nho chân thực, Nho của Việt. Sự kiện đốt sách chôn nho đời Tần, xuyên tạc nho do vụ thư viện Thạch Cừ đời Hán, khiến cho sau này Nho giáo là một thực thể phức tạp, lẫn lộn cả những yếu tố trái ngược như vừa tranh đấu cho tự do con người mà lại vừa đàn áp con người, vừa trọng nhân nghĩa mà lại nặng hình luật và lễ nghi. Về chữ viết, chữ Nho ngày nay ta thấy mới có từ đời Tần (thế kỷ thứ 3 trước T.L.) và gọi là chữ lệ. Đó là thứ chữ cuối cùng do Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Tàu thì cũng thống nhất chữ Nho. Trước nhà Tần có rất nhiều kiểu viết, nhưng nổi hơn cả là chữ con quăng cũng gọi là khoa đẩu và chữ chân chim. Hai thứ chữ này là của Việt Tộc. Hai thứ chữ này có từ lâu, mãi thời Hồng Bàng. Sau Tần Thủy Hoàng thống nhất văn tự bắt dùng chữ lệ, từ đó chữ chân chim và con quăng bị tiêu trầm. Dưới đây là mấy mẫu chữ cổ được tìm thấy trong các thám quật mới nhất:
Chữ cổ trên lưỡi
cầy Đông Sơn (trên)
Một loại chữ cổ (tìm thấy tại vùng
Mường, Thanh Hoá) Tóm lại cả Chữ Nho, Đạo Nho đều do Việt Tộc có trước rồi sau người Tàu công thức hóa thành những câu văn ngắn gọn. Hay nói cách khác, các Kinh Vô Tự của Đạo Việt, sau Tàu cho vào kinh sách, thành kinh “hữu tự”. Vậy muốn tìm về Văn Hóa Việt thì phải tìm về lâu đài văn hóa của kinh vô tự trước khi có kinh hữu tự của Tần Hán, trước cả thời nhà Chu, trước thời Khổng Tử san định các sách cổ.
Những Dấu Văn Hóa của Tứ Di so với Tàu
Những Dấu Văn Minh của Việt so với Tàu
Nhận Diện Cơ Cấu Việt Nho: Văn Hóa - Khảo Cổ Văn Hóa Chữ Việt từ nay được hiểu rất rộng, bao gồm cả Việt Nam hiện đại lẫn Bách Việt, trước nữa là các dân đứng ngoài vòng lễ nghĩa nhà Chu, cùng toàn thể khối dân sống trong nước Tàu lúc chưa có Tàu xét như một dân tộc riêng biệt. Chữ Việt (0b) viết với bộ Mễ (0a) chỉ nông nghiệp là nét nổi nhất chung cho toàn chủng. Những yếu tố coi như mẫu số chung cho đại chủng Việt, là khối dân mà gần đây khảo cổ gọi là Mongoloids, nhiều sách quen gọi là Nam Mông Cổ. Khối Mongoloids chia ra hàng trăm chi tộc, với những tên khác nhau, trong có một tên có tầm bao quát rộng được dùng chung cho toàn khối (Tam Miêu, Cửu Lê, Cửu Di, Tứ Di) Bách Việt. Sở dĩ chúng ta gọi tên Việt đại biểu cho toàn thể khối này vì chữ Việt viết với bộ Mễ chỉ nét nông nghiệp là nét nổi nhất chung cho toàn chủng. Sau đến, qua bao đợt tiêu trầm, chữ Việt chỉ còn duy nhất cái tên Việt trong quốc hiệu Việt Nam của chúng ta. Đó là chưa kể ta còn lối 60 sắc dân thiểu số trong nước sau bao đợt di dân. Và, cuối cùng, đất Việt lại là nơi tìm được nhiều trống đồng đại biểu cho nét văn hóa của đại chủng nhất. Sau đây là mấy yếu tố coi như mẫu số chung của văn hóa đại chủng Việt:
Khảo Cổ Về khảo cổ, thời Tân Thạch: Rìu có tay cầm được tìm thấy khắp từ Sơn Đông xuống Việt Nam. Sau là loại rìu lưỡi cong cùng hình dáng với phủ Việt. Thời đồ gốm 11,000 năm trước T. L: Gốm Văn thừng với kỹ thuật khắc vạch và đóng dấu. Gốm ba chân có đáy ở Đông Sơn, trên Ngưỡng Thiều và Long Sơn, đặc biệt có cái lịch (nồi ba bề). Văn xoáy ốc ngược kim đồng hồ do hình chim bay xuất hiện vì có chấm mắt. Thời đại đồ đồng lối 3 ngàn năm trước T. L. với những đỉnh, những tước đủ loại, tựu trung loại 3 chân 2 tai nổi bật. Đồ đồng xuất hiện ở Đông Nam Á (đã tìm được bên Thái lối 3000 năm trước T. L., bên Tàu khoảng đầu nhà Hạ lối 2000 trước T. L.)
(Trên: Từ trái qua phải): Rìu đá có tay cầm, Rìu đồng hình chữ nhật, Rìu lưỡi cong (Dưới): Phủ Việt lưỡi cong
Văn Minh Du Mục Chính vào thời đồ đồng này mà nảy sinh ra một dân tộc là Tàu: đó là vài bộ lạc ở vùng núi trong tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây, tuy cùng là dân nông nghiệp, nhưng ruộng khô, cấy lúa gọi là thủ, là tắc, vì tiếp cận với du mục Bắc phương nên dần dần nhiễm nền văn hóa có tính chất du mục. Nền văn minh du mục gồm mấy điểm khác biệt sau:
Đó là mấy nét lớn thường gắn bó với nhau, cái nọ sinh ra cái kia: Muốn có sức mạnh phải có quân đội thường trực (chứ không tụ họp dân khi cần như kiểu Thánh Gióng). Đã có quân đội mạnh tất phải có uy quyền thủ lãnh, sinh ra vua và pháp luật chặt chẽ. Chữ viết cần cho việc tập trung và kiểm soát. Uy quyền của vua được biểu lộ bằng cung điện nguy nga, mồ mả to lớn, kèm với mỹ thuật vĩ đại. Chính những điều này làm nên những nền nghệ thuật sáng chói, được những nhà nghiên cứu trình bày cho thiên hạ chiêm ngưỡng ca ngợi coi như những đỉnh cao của văn minh. Nhưng những đỉnh cao đó cũng là thước đo sự trầm thống khổ lụy của đại chúng. Vạn Lý trường thành là mồ chôn tập thể hàng bao trăm ngàn sinh mạng công nhân lao động. Cũng như Kim Tự Tháp của Ai Cập là kết quả biết bao máu xương của giai cấp nô lệ khốn cùng.
Cơ Cấu Âm Dương Của Việt Nho Âm Dương là hai ý niệm căn bản cấu thành vạn vật. Ý niệm này có từ thời xa xưa. Người ta ghi lại bằng một vạch liền ___ và một vạch đứt – – , vạch liền sau này gọi là Dương. Vạch đứt sau này gọi là Âm. Âm Dương có thể diễn giải thêm như đó là hai thế lực lớn gồm tất cả những gì có tính chất đối nghịch: giống cái và giống đực, tối và sáng, mềm và rắn, tĩnh và động... Sự hỗ tương hành động của Âm Dương sinh ra mọi hiện tượng vũ trụ. Khi được hiểu như là “âm dương nhị khí” trong thiên nhiên, như khi xẩy ra việc động đất ở ba lưu vực thuộc địa phận nhà Chu, sách Chu Ngữ giải thích “Nếu khí Dương bị hãm ở dưới mà không xuất ra được, khí Âm bị nén mà không thoát lên được bấy giờ có địa chấn (động đất). Nay ba con sông bị động, ấy là khí Dương đã mất địa vị chính của nó và đã nén vào khí Âm. Khí Dương đã ra ngoài địa vị mà đứng vào địa vị của Âm, hẳn là nguồn sống phải bế tắc vậy” (Dương phục nhi bất năng xuất. Âm bách nhi bất năng chung. Ư thị hữu địa chấn, Kim tam nguyên thực chấn, Âm bách nhi bất năng chung. Ư thị địa chấn, Kim tam xuyên thực chấn. Thị dương thất kỳ sở nhi chấn Âm dã. Dương thất nhi tại Âm. Xuyên nguyên tất tắc”. Kinh Dịch nói: “Nhất âm nhất dương chi vị Đạo. Kế chi giả, thiện dã, thành chi giả, tính dã” (1). (Kinh Dịch, Hệ từ 5) (Một Âm một Dương là Đạo, kế tiếp là thiện lành, thành được âm dương là Tính) Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo
Kế chi giả, Thiện dã
Thành chi giả, Tính dã
Ngoài ra, sự tương quan giữa Âm Dương còn có tính chất nội tại. Không có Âm và Dương xét như thuần Âm hay thuần Dương. Trong Âm đã có hàm tàng Dương, và trong Dương đã có tiềm ẩn Âm. (Âm trung hữu dương căn, dương trung hữu Âm căn). Theo luật này, khi Âm phái triển cùng cực, sẽ biến thành Dương, vì nó đã có sẵn mầm dương ở trong. Với Dương, cũng vậy. Khi Dương đến cực thịnh, lại biến thành Âm. Trên thực tế, ta thấy, mặt trời đứng bóng là cực cao, sẽ từ từ xế bóng. Mặt trăng đến độ tròn đầy, rồi chuyển sang từ từ khuyết. Trong đời sống, bất cứ hiện tượng gì, cá nhân, đoàn thể, xã hội nào hễ phát triển cực thịnh rồi cũng sẽ đi đến suy tàn, rồi từ những đổ nát, sự kiến tạo tốt đẹp hơn lại khai sinh. Cứ như thế, trong Âm và Dương đều có bản chất của nhau cho vạn vật biến hóa muôn màu muôn vẻ. Khoa học đã chứng minh luật “âm trung hữu dương căn” với sự khám phá ra hạt méson. (1) Như vậy Âm Dương là nguyên lý tối cao của vạn vật. Âm Dương có tính mâu thuẫn nhưng không hủy diệt. Âm Dương có tính tương quan, tác động, chuyển hóa lẫn nhau, Âm Dương tương quan trong tính biến dịch và thâu hóa nơi vạn vật vũ trụ. Nho gọi là Thiên, là Đạo, là Tính. Cũng nằm trong chữ Thành ở đợt thể. Âm Dương là Đạo hai chiều kích. Đạo Âm Dương nói chung là phạm trù có tính lưỡng-nhất, kết quả tìm được là một Chân Lý Hòa nơi tất cả những gì xem như đối lập: Hòa tình với lý, hòa ý thức với tiềm thức, hòa cá nhân với xã hội, hòa tâm với vật, hòa hữu hạn với vô biên... nên Âm Dương chính là Thái Hòa. Biện chứng Hégel cũng có hai hạn từ đối lập là chính đề và phản đề, nhưng tổng đề của Hégel là tổng đề triệt tiêu hai hạn từ trên. Do đó tổng đề của Hégel là tổng đề giả hiệu, hời hợt, mang tính hủy diệt. Duy vật sử quan của Karl-Marx là con đẻ của tổng đề hủy diệt của Hégel. Duy vật sử quan có tính hủy, tính ác, tính duy của triết học một chiều Tây phương. Âm Dương cũng là hai hạn từ kiểu biện chứng nhưng tổng đề Âm Dương là một tổng đề thứ thật, chân thực, toàn diện, có tầm mức vũ trụ, vạn vật. Hơn nữa, Âm Dương là hai hạn từ bao quát được các nền tảng của vũ trụ với tổng đề Thái Hòa làm đạo diễn cho cuộc nhân sinh. Tổng đề của Hégel chỉ đưa đến trừu tượng tinh thần. Tổng đề duy vật sử quan là tổng đề tiêu diệt đối nghịch của vật bản, là cuộc cánh mạng lẩn quẩn trong chiều kinh tế vật chất, là những rên xiết của kiếp người trong cùm kẹp của sự hủy diệt. Đặt nền tảng giá trị con người trên sinh hoạt kinh tế, có nghĩa là đặt giá trị Âm tính trên cuộc vận động của kiếp người. Đặt nặng chiều Âm nặng nề của vật thể là mất sức sống Âm Dương hai chiều mầu nhiệm của con người. Hạ tầng kinh tế chỉ huy thượng tầng văn hóa là Âm chỉ huy Dương. Điều này nghịch với “Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo”. Âm Dương Đồng xuất lộ nơi bản tính. Âm Dương Đồng Sinh nơi bản tính. Âm Dương Đồng Thành nơi bản tính. Đó là luật hai chiều Âm Dương. Đó là luật Hòa của Âm Dương. Tóm lại, tính nền tảng của Âm Dương là Hòa. Tính nền tảng của duy vật sử quan là Hủy. Nhận thức Âm Dương Hòa của Việt Nho là ý thức một thế giới quan bao la đại đồng, một nhân sinh quan tự do, nhân bản, đạo đức chân thực. Là giác ngộ Nhân Chủ Tính ở đợt cao cấp, giải phóng con người khỏi những gọng kềm nô lệ Duy Âm (vật bản) cũng như Duy Dương (thần linh). Chú thích: Hideki Yukawa, nhà bác học Nhật (giải thưởng Nobel 1949) đã giải thích tại sao chùm dương tính vào nhau, vì lẽ ra dương cùng dương sẽ không hút nhau mà phải xô đẩy ra. Ông khám phá ra loại hột mới gọi là méson. Méson có thể thuộc dương tính hoặc âm tính hoặc trung lập tính. Cho nên sở dĩ dương và dương hợp được với nhau vì là trong dương có âm (thiếu âm) gọi là méson-âm
Cơ Cấu Tam Tài Triết lý Tam Tài của Việt Nho là ba hoạt lực trong sự tương quan, hợp tác, chuyển biến lẫn nhau. Tài thứ nhất là Thiên, tài thứ ba là Địa và tài thứ hai là Nhân. Thiên và Địa là hai đối cực mà tài Nhân là nơi giao hòa, hội thông của hai tài Thiên và Địa, Nhân ở đây có tính chất trừu tượng, tiêu biểu. Thiên và Địa là những cặp đôi mâu thuẫn của bản tính vũ trụ, vạn vật, con người. Thiên có thể là vô biên, đối lập với Địa là hữu hạn. Thiên là tiềm thức âm u đối với Địa là ý thức rõ rệt. Thiên là lý trí cứng rắn, đối lập với Địa là tình cảm mềm yếu. Thiên là lòng vị tha đối lập với Địa là lòng vị kỷ. Thiên cũng có thể là tâm linh đối lập với Địa là vật thể... Hai đối cực Thiên Địa làm nên Tính Bản Nhiên của con người. Vì, con người là Tính Thể Hai Chiều, là nơi hợp nhất của hai đối cực, là điểm liên hợp sống động của Thiên và Địa. Nhân, do đó là tác động Giao, Hội, Hợp, Tương, Liên, Hòa, Thành của hai hoạt lực Thiên Địa. Tác động ấy là Tính, là Mệnh, là Gốc, là Thiện của Người. Chúng ta mới bàn đến Tính của con người, có nghĩa là mẫu dạng của cái tính chung, cái tính đại đồng, cái Nhân tính phổ quát của con người. Đó là thứ Nhân tính chưa đi vào thời gian và không gian nhỏ bé, chưa thành những cá tính riêng tư, chưa đi vào cái tiểu ngã dị biệt ở đợt hiện tượng. Chúng ta có thể gọi tài Nhân ở đây là Nhân tính đại đồng, Tính ở đây là Tính bản nhiên đại ngã. Theo cách trình bày như thế, ta hiểu tam tài là ý thức về Nhân tính ở đợt căn cơ, ở tầm mức phổ biến vũ trụ. Hay nói cách khác, người là một Hòa Điệu của Trời Đất, có một địa vị ngang hàng, hóa giải những mâu thuẫn của trời đất, giữ một địa vị quan trọng để trời đất được lưu thông, chuyển biến. Nhờ sự lưu chuyển những Tính của Thiên và Địa, mà cả ba được linh động, trường tồn. Việt Nho gọi là Sinh Sinh. Sinh Sinh là Thiên Địa Nhân Hòa. Tới đây ta hiểu được cái uyên nguyên sâu xa của sự trường tồn là tính Hòa của Nhân, chỉ có đạt được bản tính Hòa của sự sống đời đời ấy con ngừơi bé nhỏ của mỗi cá nhân chúng ta mới tham dự được vào dòng sống muôn đời của Thiên Địa. Khi đạt được giao cảm, giao hòa, tương quan, liên hợp được với Thiên và Địa, con người mới thực sự là một phần tử của cơ thể vũ trụ, con người mới cảm nhận được những chiều kích bao la trong đời, con người mới cảm thấy có nguồn sống mãnh liệt nơi đáy thẳm tâm hồn. Đời sống sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn những âu lo vật thể, những bon chen nhỏ bé, những tình cảm chật hẹp. Tâm tư như mở rộng đến những chân trời của Tính Thể Vô Biên, niềm Bình An thâm sâu nơi đáy lòng, là Ánh Sáng và Âm Thanh của Đạo. Việt Nho biểu thị Tam Tài qua dạng chữ Vương (130) như sau: Ba vạch ngang là ba tài: Thiên-Địa-Nhân (Trời-Đất-Người). Một vạch ở giữa nối cả ba vạch, để quán thông thiên địa, là chữ Vương. Vương ở đây có nghĩa là sự hoàn thiện, là giao cảm với trời đất, là siêu việt lên như trời đất. Chữ Vương là biểu hiệu của Nhân tính đại đồng, bản thể của con người. Con người là vua trong trời đất, con người là tâm linh của vạn vật, con người là cái Tâm của Thiên Địa, là cái Linh của Đất Trời. Ta hãy xem bài thơ Nhân Chủ qua bài vịnh Tam Tài của Trần Cao Vân: Trời Đất sinh Ta có ý không
Cơ Cấu Ngũ Hành Ngũ Hành là một phạm trù triết học, là khung căn bản của minh triết Việt Nho. Bản văn cổ đại nhất nằm trong Kinh Thư ở thiên Nghiêu-Điển và thiên Hồng Phạm. Kinh Thư san định thời Khổng Tử, nhưng hai thiên Nghiêu-Điển và Hồng Phạm đã có từ lâu đời. Bản văn Ngũ Hành chia làm 3 triệt. Triệt nhất, nói về thứ tự các hành. Gồm có kim, mộc, thủy, hoả, thổ. Triệt hai nói về tính chất của mỗi hành. Triệt ba nói về ngũ vị, sự ứng dụng nơi mùi vị: hàm, khổ, toan, tân, cam (mặn, đắng, chua, cay, ngọt). Triệt hai quan trọng nhất vì nói về cái thể, cái tính chất của mỗi hành. Triết Tây phương theo Aristote , thì vạn vật tạo thành bởi 4 tố chất đất, nước, khí, lửa khác nhau, tuy biệt cách, biến động nhưng đồng thời 4 tố chất kia lại nằm trong khí éther bất biến, nên sự vật vẫn có tính chất liên tục. Nhưng éther ở cùng một bình diện hiện tượng như bốn tố chất kia, nó không có tính nối kết những cá thể riêng rẽ, nó cũng là một tính chất cá biệt, phân ly như bốn tố chất kia. Thành ra, tuy cùng nói về các tố chất khách quan, nhưng Ngũ Hành của Việt Nho mang một ý nghĩa triết lý hoàn toàn khác biệt với tứ tố vật lý của Aristote. Thiên Hồng Phạm nói:
(Thủy viết nhuận hạ. Hoả viết viêm thượng. Mộc viết khúc trực. Kim viết tòng cách. Thổ viên giá sắc). (3)
Hành ở đây không hiểu theo lối tố chất cụ thể như thủy là nước, hỏa là lửa, thổ là đất. Hành ở đây phải được hiểu như là yếu tính, là vận hành, là tác động, là hoạt lực. Như thế theo cái hiểu bằng động từ, hành là một lộ trình của những yếu tính. Những yếu tính này, kỳ diệu thay, dung chứa những nguyên lý muôn đời của cặp đôi, từng cặp đôi mâu thuẫn mà hòa hợp. Yếu tính của nước là thấm xuống, thì đối lập với yếu tính của hỏa là vươn lên. Còn yếu tính của Mộc mang tính cặp đôi “uốn khúc”, “chính trực” thì lại đối lập với cặp đôi yếu tính của kim là “vâng theo”, “biến đổi”. Rồi chính trong tự thân yếu tính của Mộc là “khúc” cũng đối đãi với “trực”. Uốn khúc để mà chính trực. Hai tác động đối đãi cao độ ở hành mộc cũng phản ánh nơi hành kim, đó là “tòng” để mà “cách”. Đây là cặp tính thể nhất nguyên lưỡng cực qua yếu tính của Mộc và Kim trong ngũ hành. Thế là từ hành thủy và hành hỏa ta thấy yếu tính tương phản đi với nhau trong cặp đối lập đơn thủy - hỏa. Rồi đến hành Mộc và Kim thì từ trong mỗi hành đã có cặp tính đối đãi và là cặp đối lập kép Kim-Mộc. Rồi đến hành Thổ, không có đối lập, nó là một hành đặc biệt không có chỗ ở tứ phương, không có cả yếu tính như 4 hành kia, nhưng chính trong sự hàm tàng, chứa đựng “Gieo - Gặt” thể hiện tác động đối đãi đặc trưng nhất. Thổ ở vị trí trung cung, nên cái cặp đôi uyên nguyên càng linh động, sâu sắc, nền tảng như cặp động từ “gieo-gặt”. Vì vậy Thổ gieo gặt tuy có một mình nhưng lại là hồn thiêng của tất cả, là cõi hội thông của các cặp đối lập, là mối tương quan của những nghịch chiều. Thổ vì vậy có đức tròn đầy viên dung của Đạo Thể. Chân lý tối thượng phải tròn, chỉ hình tròn mới bao dung được tất cả các phần tử hạn cục. Thánh Hiền dùng chữ “Viên” để chỉ rõ đức của thổ. Thổ viên giá săc.
Để quảng diễn cho
ý nghĩa này, ta hãy xem giá trị của linh đức Thổ “Tri chu hồ vạn vật, nhi đạo tế
thiên hạ cố bất quá. Bàng hành nhi bất lưu. Lạc thiên tri mệnh cố bất ưu. An
thổ đôn hồ nhân cố năng ái”. Câu này có nghĩa là “ Biết được cái Đạo thể tròn
đầy của vạn vật, nên gây được An Hòa cho khắp cõi, vì vậy không đi quá. Hoạt
động ở vòng ngoài mà không trôi theo lưu tục. Thấu hiểu mệnh trời nên không ưu
sầu. Bình An nơi Thổ Tâm linh huyền nhiệm nên có thể yêu thương bằng tấm lòng
chân thực” (4). (Kinh Dịch, Hệ từ 4) Tri chu hồ vạn vật
Đạo Tế Thiên Hạ, Cố Bất Quá
Bàng Hành Nhi Bất Lưu
Lạc Thiên Tri Mệnh Cố Bất Ưu
An Thổ
Đôn Hồ Nhân
Cố Năng Ái
Ý Nghĩa Cơ Cấu Ngũ Hành Tóm lại, qua Cơ Cấu Ngũ Hành, thánh nhân Việt Nho đã để lại một bài học cô đọng về bước Tu Thân cả vòng trong tâm linh lẫn vòng ngoài hiện tượng. Bảo chứng của trình độ tu dưỡng nội tâm là đạt đến AN nơi Tâm linh và HÒA nơi tình yêu thương chân thực. Có nghĩa là khi đạt nội tỉnh An thì mới có ngoại giới Hòa. Có đạt tới cái Chu Tri thì mới có An, Tịnh trong lòng. Lòng có An, có Tịnh thì mới sắp đặt mọi việc bên ngoài sao cho hợp đạo, tự nhiên gây được cảnh thái hòa. Cảnh giới thái hòa sẽ tự nhiên mang đến sự chừng mực, bình quân cho tất cả. Do đó, đã hiểu được Đạo Thể Viên Dung, dù có hoạt động vòng ngoài của đời sống cách nào đi nữa, nhưng Trí giả Việt Nho không bị cuốn trôi theo lưu tục. Như Tâm vẫn hằng An vui trong mọi cảnh sắc ở đời. Lưu hành trong chốn động loạn nhưng Tâm người hiểu Đạo vẫn Tịnh An. Và, chỉ có dừng lại nơi thổ tâm linh, dừng chân nơi chốn quê hương bình an thâm sâu của tâm hồn, thì từ đó mới có thể có tấm lòng yêu thương chân thật. Thật thế, ta không thể yêu người bằng lý trí suông, từ nội tâm động loạn, bất an, nghiêng lệch. Ta không thể yêu người khi chưa hiểu biết về tính thể trọn vẹn của người. Chưa nắm vững chân lý An Thổ thì làm sao có khả năng yêu thương tha nhân bao la và chân thật. Triết lý Ngũ Hành định hướng cho ta một lộ trình đi tìm hành thổ tâm linh, mảnh đất thiêng của quê hương tinh thần, để nội tâm được Tịnh An, Trí Tuệ thông suốt, để dưỡng nuôi tình người chân thực. Triết lý Ngũ Hành nhắc ta con đường của Trí Tuệ để phục vụ đức Nhân. Hay nói cách khác, theo triết lý Ngũ Hành, Trí tuệ là nguồn mạch cho tình yêu người cụ thể và thiết thực. Trí tuệ ở đây là sự liễu hiểu đạo lý hai chiều bổ túc, tương quan, hòa hợp trong vũ trụ, đời sống, cụ thể như yếu tính tiêu biểu của các tố chất làm biểu tượng. Ta thấy triết lý Việt Nho không dùng những ý niệm xa thực tế, thuần lý trí. Đơn giản, rõ rệt như các tố chất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ mà bất cứ người nào cũng có thể quan sát được, Minh Triết An Vi từ những biểu tượng ngũ hành mà khai mở chân lý nền tảng của nhân sinh. Những yếu tính của Kim và Mộc là những bài học vòng ngoài của bước lưu hành thế tục. Có lúc phải như mộc, uốn khúc để rồi chính trực. Có lúc như kim, vâng theo để mà biến cải. Những nguyên tắc này là nguyên tắc của sự linh động trong thực tế, của sự chấp nhận đi từ những bất lợi, trắc trở, bất như ý từ những hoàn cảnh riêng tư của cá nhân, xã hội, để rồi từ đó mà biến đổi, đưa về chính trực. Hiện thực triết lý ngũ hành là phải rèn luyện cái yếu tính của kim, của mộc trong sinh hoạt hiện tượng, nhưng không để sự uyển chuyển và tùy thời mà trôi luôn theo ngoại cảnh, mất cả Đạo Tâm. Cho nên Hiền Triết Việt Nho phải nhủ lòng “Bàng hành nhi bất lưu”. Hoạt động vòng ngoài nhưng không trôi theo lưu tục, luôn An Nhiên Tự Tại nơi hành Thổ tâm linh. Đó cũng cùng ý nghĩa của đoá hoa sen tinh khiết. Do đó, với Tâm trùm cảnh, lòng người là đóa sen trong sạch An vui thường tịnh, lan tỏa nguồn yêu thương chân thực. Chu tri và An Tịnh là một bảo chứng cho lòng chân thực của đức yêu người. Hay nói cách khác, đạo đức tu thân phải là đầu mối của yêu thương, là cội nguồn của mọi sinh hoạt xã hội. Tu thân là tĩnh tâm cho an định, vững vàng trong sự đoạn trừ vô minh của bất cứ tư tưởng, ý niệm một chiều, quá khích nào làm mất đạo Bình Quân tự nhiên của trời đất. Thế giới hiện
nay đang bị sâu xé vì những ý hệ đủ loại, kiếp người bị vật thể hóa vì đời sống
nặng nề cùm kẹp của vật chất, tình yêu thương bị héo mòn theo. Triết Lý Ngũ
Hành, cơ cấu siêu việt của Đạo Thể Viên Dung, là thực phẩm tài bồi cho đất Tâm
linh khô cằn, là lộ trình tu thân về hành thổ Tâm Linh -
Mìền Quê Hương Bình An của Mỗi Tâm Hồn.
|